Luận văn thạc sĩ về phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính

Khám phá luận văn thạc sĩ về phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật qua thơ Nguyễn Bính, phân tích và ứng dụng trong nghiên cứu văn học.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn ThS
110
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Mục đích nghiên cứu

0.5. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG XUẤT PHÁT ĐIỂM

1.1. Nối kết là gì?

1.1.1. Nối kết trong mối quan hệ với ngữ pháp học

1.2. Những quan điểm đi trước

1.3. Quan điểm của chúng tôi

1.4. Nối kết trong văn bản nghệ thuật

1.5. Đôi nét về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bính

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG PHƯƠNG TIỆN NỐI KẾT TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH THỜI TIỀN CHIẾN

2.1. Những biểu hiện của lớp bề mặt

2.2. Hệ thống các phương tiện từ vựng như những tín hiệu thẩm mĩ

2.3. Chủ đích của chủ thể sáng tạo văn bản

3. CHƯƠNG 3: NGUYỄN BÍNH VÀ CÁC NHÀ THƠ CÙNG PHONG CÁCH

3.1. Nguyễn Bính và các nhà thơ tiền chiến

3.2. Nguyễn Bính và các nhà thơ đồng quê

3.3. Nguyễn Bính và các nhà thơ sở trường lục bát

PHẦN KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính

Thơ ca Nguyễn Bính là một trong những biểu hiện tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ tiền chiến. Ông không chỉ nổi bật với những hình ảnh thơ mộng mà còn với những phương tiện nối kết độc đáo trong văn bản nghệ thuật. Những phương tiện này không chỉ giúp tạo ra sự liên kết giữa các câu thơ mà còn làm nổi bật ý nghĩa và cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải. Việc nghiên cứu các phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính không chỉ giúp hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của ông mà còn mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu văn học.

1.1. Định nghĩa và vai trò của phương tiện nối kết

Phương tiện nối kết trong thơ ca được hiểu là những yếu tố ngôn ngữ giúp tạo ra sự liên kết giữa các phần của văn bản. Chúng có thể là từ ngữ, hình ảnh, hoặc cấu trúc ngữ pháp. Vai trò của chúng là rất quan trọng, vì chúng không chỉ giúp người đọc dễ dàng theo dõi mạch cảm xúc mà còn làm cho tác phẩm trở nên mạch lạc và có sức hấp dẫn hơn.

1.2. Tại sao nên nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính

Nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính giúp làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật độc đáo của ông. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học Việt Nam. Hơn nữa, việc phân tích này còn mở ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn học.

II. Những thách thức trong việc phân tích phương tiện nối kết

Việc phân tích phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính không phải là điều dễ dàng. Có nhiều thách thức mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt, từ việc xác định các yếu tố nối kết đến việc hiểu rõ ngữ cảnh và ý nghĩa của chúng. Những thách thức này đòi hỏi sự tinh tế và khả năng cảm thụ nghệ thuật cao từ người phân tích.

2.1. Khó khăn trong việc xác định các yếu tố nối kết

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc xác định các yếu tố nối kết trong thơ. Nhiều khi, các yếu tố này không rõ ràng và có thể bị hiểu nhầm. Điều này đòi hỏi người phân tích phải có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ và văn học.

2.2. Tác động của ngữ cảnh đến phương tiện nối kết

Ngữ cảnh là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cách hiểu và cảm nhận các phương tiện nối kết. Một câu thơ có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh mà nó xuất hiện. Do đó, việc phân tích ngữ cảnh là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về phương tiện nối kết.

III. Phương pháp nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính

Để nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ học và văn học. Các phương pháp này giúp làm rõ cách thức mà các yếu tố nối kết hoạt động trong văn bản và ảnh hưởng đến ý nghĩa tổng thể của tác phẩm.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa và hình ảnh trong thơ

Phân tích ngữ nghĩa và hình ảnh là một trong những phương pháp quan trọng trong nghiên cứu thơ. Điều này giúp làm rõ cách mà các hình ảnh và từ ngữ được sử dụng để tạo ra sự liên kết và cảm xúc trong tác phẩm.

3.2. So sánh với các tác giả cùng thời

So sánh thơ Nguyễn Bính với các tác giả cùng thời giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt trong phong cách của ông. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về phương tiện nối kết mà còn làm sáng tỏ vị trí của Nguyễn Bính trong nền văn học Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu phương tiện nối kết

Nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào giảng dạy và học tập văn học. Việc hiểu rõ các phương tiện nối kết giúp học sinh và sinh viên có thể cảm nhận và phân tích tác phẩm một cách sâu sắc hơn.

4.1. Tăng cường khả năng phân tích văn bản

Việc nghiên cứu phương tiện nối kết giúp học sinh phát triển khả năng phân tích văn bản. Họ sẽ học được cách nhận diện và hiểu rõ các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

4.2. Ứng dụng trong giảng dạy văn học

Giáo viên có thể sử dụng những nghiên cứu về phương tiện nối kết để xây dựng các bài giảng hấp dẫn hơn. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn kích thích sự sáng tạo và tư duy phản biện.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu phương tiện nối kết

Nghiên cứu phương tiện nối kết trong thơ Nguyễn Bính mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu văn học. Những phát hiện từ nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ hơn về phong cách của Nguyễn Bính mà còn góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học Việt Nam. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ còn nhiều điều thú vị và bất ngờ.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu văn học

Nghiên cứu văn học, đặc biệt là các phương tiện nối kết, đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc. Nó giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn học và nghệ thuật của dân tộc.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu văn học

Tương lai của nghiên cứu văn học sẽ tiếp tục mở rộng với nhiều phương pháp và cách tiếp cận mới. Việc áp dụng công nghệ và các phương pháp nghiên cứu hiện đại sẽ giúp làm phong phú thêm cho lĩnh vực này.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật dựa trên cứ liệu thơ nguyễn bính

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu của luận văn, chữ “nghệ thuật” chúng tôi dùng ở đây có sở chỉ là thi ca, là các tác phẩm thơ - khối dẫn liệu mà các nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản đi trước như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Việt Thanh rất ít dùng. Liên kết trong thơ, đứng ở góc độ nào đó có thể nói là khó hơn nhiều so với liên kết trong văn xuôi nói chung, liên kết trong truyện ngắn nói riêng. Khó bởi tác phẩm thi ca mang những đặc điểm riêng biệt sau đây: Một là, chức năng giao tiếp và chức năng tư duy thể hiện trong văn bản thơ là "những giao tiếp" và "những tư duy" đầy tính bất thường, không giống với ngôn ngữ giao tiếp thông tục. Một văn bản thơ có thể là sự giao tiếp của nhà thơ với chính mình, không cần đến một người đọc thứ hai.

Tư duy trong thơ là sự phát triển tối đa lối tư duy hình tượng, kết hợp ngôn từ theo cách "lạ hoá". Chính vì thế mà đằng sau hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ cho tư duy, ở một thời kỳ sau, người ta phải ghi nhận thêm chức năng thứ ba của ngôn ngữ là chức năng thi pháp. Đó là khi ta đặt ngôn ngữ vào trong mối quan hệ với văn chương. Hai là, hình thức cú pháp trong thơ cũng đi theo một lối riêng biệt của nó.

Đó là việc tạo ra nhiều trật tự mới giữa các thành phần câu, việc thu hẹp tối đa dung lượng câu thơ/bài thơ cũng như mở rộng dung lượng câu thơ/bài thơ ra đến vô cùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, không ở đâu như trong thơ, các biện pháp tu từ lại được phát huy cao độ đến thế. Điều này vừa là cái dễ nhưng cũng vừa là cái khó đối với những ai muốn tìm hiểu về liên kết trong thơ. Dễ ở chỗ nó là một dấu hiệu đặc trưng và cũng là chìa khoá để căn cứ vào đó mà giải mã bài thơ cũng như có một cái nhìn thấu suốt đối với mạch lạc và cấu tứ bài thơ.

Khó là ở chỗ không phải khi nào những kiến trúc tu từ cũng cho ta giải mã một cách dễ dàng hoặc một cách trọn vẹn. Bốn là, liên kết trong thơ còn khó ở chỗ mỗi văn bản thơ là mỗi văn bản chấp nhận sự đa nghĩa. Việc giải mã một văn bản thơ, tìm ra liên kết của một bài thơ đôi khi còn liên quan đến nhiều vùng tri thức mà người nghiên cứu không phải lúc nào cũng được trang bị đầy đủ. Đó là các tri thức nằm ngoài văn bản thơ như hoàn cảnh xã hội, tiểu sử nhà thơ, quan niệm nghệ thuật cùng các tri thức liên ngành như văn học sử dân tộc, văn học thế giới và các trường phái, văn hoá học, nghệ thuật học, mỹ học, hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc v.

Dễ hiểu vì sao trong 4 chuyên luận mà chúng tôi đã nhắc đến ở phần trước, hệ thống các ví dụ dẫn chứng minh hoạ cho các hình thức/nội dung liên kết đều được thể hiện chủ yếu bằng văn xuôi (các đoạn hội thoại được ghi băng, các dẫn chứng trích từ truyện ngắn hoặc các tác phẩm phê bình - tiểu luận, văn bản nghị luận xã hội) chứ rất ít khi các tác giả dùng thơ để minh họa. Thực ra, từ những góc độ nhất định, cũng có thể áp dụng những mô hình liên kết của Trần Ngọc Thêm hay Diệp Quang Ban cho tác phẩm thi ca. Chẳng hạn, có thể chỉ ra sự hiện diện của những liên kết hình thức có trong tác phẩm thi ca như: phép lặp, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược. a) Phép lặp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tác phẩm thơ, có thể tìm thấy những hình thức khác nhau của phép lặp như: lặp từ vựng, lặp cấu trúc ngữ pháp, lặp ngữ âm - lặp từ vựng: Xanh núi xanh sông xanh đồng xanh biển Xanh trời xanh cả những ước mơ (Tố Hữu) Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua (Nguyễn Khuyến) - lặp cấu trúc ngữ pháp: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa (Nguyễn Đình Thi) - lặp ngữ âm: thể hiện qua việc gieo vần (lặp phần vần), lặp phụ âm đầu, lặp thanh điệu và có thể cả lặp phụ âm cuối nữa: Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều (Xuân Diệu) Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (Nguyễn Khuyễn) Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương (Tản Đà) b) Phép nối Những quan hệ từ, liên từ như: tuy, thì, và, nhưng, khi…có thể xuất hiện ở những vị trí mở đầu hay kết thúc của mỗi câu thơ để làm nhiệm vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên kết câu thơ trên với câu thơ dưới, liên kết các khổ thơ với nhau, cũng có khi là liên kết văn bản thơ với một cái gì nằm ngoài văn bản.

Đó là khi các quan hệ từ, liên từ đó đồng thời xuất hiện ở cuối cùng của một câu thơ và đó cũng là câu thơ kết thúc tác phẩm: Ai hay tuy lặng bước thu êm Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm (Xuân Diệu) Li khách! Li khách con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại Ba năm mẹ già cũng đừng mong (Thâm Tâm) Anh cũng định làm như người thiên hạ Sực nhớ lại em là em em ạ Nên bây giờ anh xin phép ra đi Để bốn bên thiên hạ ngó em vì… ( Biểu tượng sơ nguyên - Bùi Giáng) c) Phép thế: Trên cao, mỗi chàng – nàng trỗi mình nhóm lửa Em vươn qua khung cửa, đón Anh về Chúng ta không lạc nhau, vì hơi ấm để dành vì mùi còn gìn giữ (Vi Thùy Linh) d) Phép tỉnh lược Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. (Quang Dũng) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Và cũng có thể chỉ ra cái gọi là liên kết nội dung hay mạch lạc của một thi phẩm. Đó là sự đồng hướng, cộng hưởng của những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật hay những chuỗi ngôn từ, nhằm hướng đến mục đích chung là thể hiện được ý đò của tác giả. Chẳng hạn, trong bài Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương, sự phối hợp của các từ ngữ cùng một trường nghĩa: Cóc – bén – chàng – nòng nọc - chuộc tạo ra một liên kết nội dung thống nhất cho toàn bài: nỗi nhớ thương đối với Tổng Cóc và vẫn ẩn giấu chất nghịch ngợm, khôi hài đúng với phong cách Hồ Xuân Hương: Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Hay trong bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử, tác giả đã rải đều trên bề mặt thi phẩm những động từ, tính từ, danh từ gợi về chuyện ân ái (sóng soãi, lả lơi, ngây tình, hồi hộp, rào rạt, trần truồng, khuôn vàng, đáy khe, hôn, bẽn lẽn, sợ, tiết trinh), một tập hợp các hình ảnh mà đặt cạnh bên nhau sẽ làm lộ rõ sự hô ứng và tương ứng của chúng: trăng nằm sóng soãi - hoa lá ngây tình – bóng nguyệt trần truồng – gió hôn lên má. Tất cả nhằm làm nổi bật mục đích cuối cùng là khắc hoạ cho được tâm trạng khao khát yêu đương của người con gái đang thì xuân sắc. Hãy cùng đọc lại toàn bộ bài thơ này: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi… Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi… Trong khóm vi lau rào rạt mãi: Tiếng lòng ai nói? Sao im đi? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ô kia, bóng nguyệt trần truồng tắm Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe… Vô tình để gió hôn lên má, Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm… Em sợ lang quân em biết được Nghi ngờ đến cái tiết trinh em… Như trên đã nói và qua một số ví dụ vừa trình bày, chúng ta có thể xử lí một cách cơ giới việc chỉ ra những liên kết trong tác phẩm thi ca. Thế nhưng trên thực tế, đối với một thế giới những văn bản được hình thành do khả năng tư duy hình tượng, thật khó có thể tách biệt rạch ròi đâu là liên kết hình thức, đâu là liên kết nội dung.

Hơn nữa, việc tách biệt ấy sẽ là vô nghĩa nếu như ta nghĩ đến mục đích cuối cùng cho việc tìm hiểu sự liên kết của một tác phẩm. Quả vậy, mục đích cuối cùng cho việc tìm hiểu kiên kết của một tác phẩm không phải là sự tổng kết xem nhà thơ đã dùng bao nhiêu biện pháp liên kết mà là phải chỉ ra cho được tư tưởng của người viết đằng sau mỗi tác phẩm (cũng như một loạt tác phẩm) là gì. Đó là về mặt nội dung, còn về mặt nghệ thuật, mục đích tối thượng của việc tìm hiểu một tác phẩm thi ca là phải chỉ ra bằng được vẻ đẹp ngôn từ của tác phẩm ấy. Từ đó có thể đưa ra những nhận xét về phong cách nghệ thuật riêng biệt của mỗi tác giả (tất nhiên, số lượng tác phẩm được phân tích phải đủ lớn để tạo nên sức khái quát).

Ý thức được những điều trên, việc tìm hiểu nối kết trong tác phẩm thi ca của chúng tôi sẽ không tiến hành theo cách tách biệt những liên kết hình thức và liên kết nội dung theo quan điểm của những người đi trước như Trần Ngọc Thêm hay Diệp Quang Ban mà chúng tôi sẽ sử dụng một mô hình ba tầng bậc với cái đích sau cùng là chủ đích của chủ thể sáng tạo tác phẩm. Chủ đích ấy sẽ thể hiện qua sự huy động và tổ chức các lớp từ ngữ theo sự cộng hưởng với nhau để tạo nên một trường quy chiếu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những liên kết trên bề mặt sẽ đóng vai trò thứ yếu, chỉ mang tính chất của lớp vỏ, để chứa đựng những ý nghĩa thực sự đằng sau. Tóm lại, tìm hiểu nối kết trong tác phẩm thi ca chính là một cách thế để hiểu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy II.

Đôi nét về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bính Nguyễn Bính được giới văn chương Việt Nam biết đến và nhớ tới với tư cách một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ