phần mở đầu của luận văn, chữ “nghệ thuật” chúng tôi dùng ở đây có sở chỉ là thi ca, là các tác phẩm thơ - khối dẫn liệu mà các nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản đi trước như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Việt Thanh rất ít dùng. Liên kết trong thơ, đứng ở góc độ nào đó có thể nói là khó hơn nhiều so với liên kết trong văn xuôi nói chung, liên kết trong truyện ngắn nói riêng. Khó bởi tác phẩm thi ca mang những đặc điểm riêng biệt sau đây: Một là, chức năng giao tiếp và chức năng tư duy thể hiện trong văn bản thơ là "những giao tiếp" và "những tư duy" đầy tính bất thường, không giống với ngôn ngữ giao tiếp thông tục. Một văn bản thơ có thể là sự giao tiếp của nhà thơ với chính mình, không cần đến một người đọc thứ hai.
Tư duy trong thơ là sự phát triển tối đa lối tư duy hình tượng, kết hợp ngôn từ theo cách "lạ hoá". Chính vì thế mà đằng sau hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ cho tư duy, ở một thời kỳ sau, người ta phải ghi nhận thêm chức năng thứ ba của ngôn ngữ là chức năng thi pháp. Đó là khi ta đặt ngôn ngữ vào trong mối quan hệ với văn chương. Hai là, hình thức cú pháp trong thơ cũng đi theo một lối riêng biệt của nó.
Đó là việc tạo ra nhiều trật tự mới giữa các thành phần câu, việc thu hẹp tối đa dung lượng câu thơ/bài thơ cũng như mở rộng dung lượng câu thơ/bài thơ ra đến vô cùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, không ở đâu như trong thơ, các biện pháp tu từ lại được phát huy cao độ đến thế. Điều này vừa là cái dễ nhưng cũng vừa là cái khó đối với những ai muốn tìm hiểu về liên kết trong thơ. Dễ ở chỗ nó là một dấu hiệu đặc trưng và cũng là chìa khoá để căn cứ vào đó mà giải mã bài thơ cũng như có một cái nhìn thấu suốt đối với mạch lạc và cấu tứ bài thơ.
Khó là ở chỗ không phải khi nào những kiến trúc tu từ cũng cho ta giải mã một cách dễ dàng hoặc một cách trọn vẹn. Bốn là, liên kết trong thơ còn khó ở chỗ mỗi văn bản thơ là mỗi văn bản chấp nhận sự đa nghĩa. Việc giải mã một văn bản thơ, tìm ra liên kết của một bài thơ đôi khi còn liên quan đến nhiều vùng tri thức mà người nghiên cứu không phải lúc nào cũng được trang bị đầy đủ. Đó là các tri thức nằm ngoài văn bản thơ như hoàn cảnh xã hội, tiểu sử nhà thơ, quan niệm nghệ thuật cùng các tri thức liên ngành như văn học sử dân tộc, văn học thế giới và các trường phái, văn hoá học, nghệ thuật học, mỹ học, hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc v.
Dễ hiểu vì sao trong 4 chuyên luận mà chúng tôi đã nhắc đến ở phần trước, hệ thống các ví dụ dẫn chứng minh hoạ cho các hình thức/nội dung liên kết đều được thể hiện chủ yếu bằng văn xuôi (các đoạn hội thoại được ghi băng, các dẫn chứng trích từ truyện ngắn hoặc các tác phẩm phê bình - tiểu luận, văn bản nghị luận xã hội) chứ rất ít khi các tác giả dùng thơ để minh họa. Thực ra, từ những góc độ nhất định, cũng có thể áp dụng những mô hình liên kết của Trần Ngọc Thêm hay Diệp Quang Ban cho tác phẩm thi ca. Chẳng hạn, có thể chỉ ra sự hiện diện của những liên kết hình thức có trong tác phẩm thi ca như: phép lặp, phép nối, phép thế, phép tỉnh lược. a) Phép lặp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tác phẩm thơ, có thể tìm thấy những hình thức khác nhau của phép lặp như: lặp từ vựng, lặp cấu trúc ngữ pháp, lặp ngữ âm - lặp từ vựng: Xanh núi xanh sông xanh đồng xanh biển Xanh trời xanh cả những ước mơ (Tố Hữu) Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua (Nguyễn Khuyến) - lặp cấu trúc ngữ pháp: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa (Nguyễn Đình Thi) - lặp ngữ âm: thể hiện qua việc gieo vần (lặp phần vần), lặp phụ âm đầu, lặp thanh điệu và có thể cả lặp phụ âm cuối nữa: Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều (Xuân Diệu) Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (Nguyễn Khuyễn) Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương (Tản Đà) b) Phép nối Những quan hệ từ, liên từ như: tuy, thì, và, nhưng, khi…có thể xuất hiện ở những vị trí mở đầu hay kết thúc của mỗi câu thơ để làm nhiệm vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên kết câu thơ trên với câu thơ dưới, liên kết các khổ thơ với nhau, cũng có khi là liên kết văn bản thơ với một cái gì nằm ngoài văn bản.
Đó là khi các quan hệ từ, liên từ đó đồng thời xuất hiện ở cuối cùng của một câu thơ và đó cũng là câu thơ kết thúc tác phẩm: Ai hay tuy lặng bước thu êm Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm (Xuân Diệu) Li khách! Li khách con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại Ba năm mẹ già cũng đừng mong (Thâm Tâm) Anh cũng định làm như người thiên hạ Sực nhớ lại em là em em ạ Nên bây giờ anh xin phép ra đi Để bốn bên thiên hạ ngó em vì… ( Biểu tượng sơ nguyên - Bùi Giáng) c) Phép thế: Trên cao, mỗi chàng – nàng trỗi mình nhóm lửa Em vươn qua khung cửa, đón Anh về Chúng ta không lạc nhau, vì hơi ấm để dành vì mùi còn gìn giữ (Vi Thùy Linh) d) Phép tỉnh lược Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. (Quang Dũng) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Và cũng có thể chỉ ra cái gọi là liên kết nội dung hay mạch lạc của một thi phẩm. Đó là sự đồng hướng, cộng hưởng của những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật hay những chuỗi ngôn từ, nhằm hướng đến mục đích chung là thể hiện được ý đò của tác giả. Chẳng hạn, trong bài Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương, sự phối hợp của các từ ngữ cùng một trường nghĩa: Cóc – bén – chàng – nòng nọc - chuộc tạo ra một liên kết nội dung thống nhất cho toàn bài: nỗi nhớ thương đối với Tổng Cóc và vẫn ẩn giấu chất nghịch ngợm, khôi hài đúng với phong cách Hồ Xuân Hương: Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
Hay trong bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử, tác giả đã rải đều trên bề mặt thi phẩm những động từ, tính từ, danh từ gợi về chuyện ân ái (sóng soãi, lả lơi, ngây tình, hồi hộp, rào rạt, trần truồng, khuôn vàng, đáy khe, hôn, bẽn lẽn, sợ, tiết trinh), một tập hợp các hình ảnh mà đặt cạnh bên nhau sẽ làm lộ rõ sự hô ứng và tương ứng của chúng: trăng nằm sóng soãi - hoa lá ngây tình – bóng nguyệt trần truồng – gió hôn lên má. Tất cả nhằm làm nổi bật mục đích cuối cùng là khắc hoạ cho được tâm trạng khao khát yêu đương của người con gái đang thì xuân sắc. Hãy cùng đọc lại toàn bộ bài thơ này: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi… Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi… Trong khóm vi lau rào rạt mãi: Tiếng lòng ai nói? Sao im đi? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ô kia, bóng nguyệt trần truồng tắm Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe… Vô tình để gió hôn lên má, Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm… Em sợ lang quân em biết được Nghi ngờ đến cái tiết trinh em… Như trên đã nói và qua một số ví dụ vừa trình bày, chúng ta có thể xử lí một cách cơ giới việc chỉ ra những liên kết trong tác phẩm thi ca. Thế nhưng trên thực tế, đối với một thế giới những văn bản được hình thành do khả năng tư duy hình tượng, thật khó có thể tách biệt rạch ròi đâu là liên kết hình thức, đâu là liên kết nội dung.
Hơn nữa, việc tách biệt ấy sẽ là vô nghĩa nếu như ta nghĩ đến mục đích cuối cùng cho việc tìm hiểu sự liên kết của một tác phẩm. Quả vậy, mục đích cuối cùng cho việc tìm hiểu kiên kết của một tác phẩm không phải là sự tổng kết xem nhà thơ đã dùng bao nhiêu biện pháp liên kết mà là phải chỉ ra cho được tư tưởng của người viết đằng sau mỗi tác phẩm (cũng như một loạt tác phẩm) là gì. Đó là về mặt nội dung, còn về mặt nghệ thuật, mục đích tối thượng của việc tìm hiểu một tác phẩm thi ca là phải chỉ ra bằng được vẻ đẹp ngôn từ của tác phẩm ấy. Từ đó có thể đưa ra những nhận xét về phong cách nghệ thuật riêng biệt của mỗi tác giả (tất nhiên, số lượng tác phẩm được phân tích phải đủ lớn để tạo nên sức khái quát).
Ý thức được những điều trên, việc tìm hiểu nối kết trong tác phẩm thi ca của chúng tôi sẽ không tiến hành theo cách tách biệt những liên kết hình thức và liên kết nội dung theo quan điểm của những người đi trước như Trần Ngọc Thêm hay Diệp Quang Ban mà chúng tôi sẽ sử dụng một mô hình ba tầng bậc với cái đích sau cùng là chủ đích của chủ thể sáng tạo tác phẩm. Chủ đích ấy sẽ thể hiện qua sự huy động và tổ chức các lớp từ ngữ theo sự cộng hưởng với nhau để tạo nên một trường quy chiếu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những liên kết trên bề mặt sẽ đóng vai trò thứ yếu, chỉ mang tính chất của lớp vỏ, để chứa đựng những ý nghĩa thực sự đằng sau. Tóm lại, tìm hiểu nối kết trong tác phẩm thi ca chính là một cách thế để hiểu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy II.
Đôi nét về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bính Nguyễn Bính được giới văn chương Việt Nam biết đến và nhớ tới với tư cách một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945.