Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Quang Cường có tiêu đề chính thức là "Hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ ở Việt Nam", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, chuyên ngành Tài chính, Lưu thông tiền tệ và Tín dụng (mã số 5.09), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Mỹ Hạnh và TS. Ưng Thị Minh Lệ.

Về tính cấp thiết, tác giả xác định việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với nhịp độ tăng trưởng kinh tế là điều kiện để duy trì sự tăng trưởng ổn định. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn eo hẹp, sự tham gia đầu tư từ khu vực dân doanh còn hạn chế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối mặt với cạnh tranh quốc tế, tín dụng nhà nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ là giải pháp chủ yếu để bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho các công trình hạ tầng trọng điểm. Kể từ năm 1992, Việt Nam đã chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, khiến vai trò vay nợ của Nhà nước ngày càng trở nên thiết yếu. Tuy nhiên, chính sách tín dụng nhà nước ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2007 mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô ban đầu. Cơ chế huy động vốn bằng trái phiếu chính phủ bộc lộ nhiều điểm hạn chế: trái phiếu chính phủ chủ yếu được điều hành như một công cụ hành chính để thu hút vốn vay cho ngân sách hơn là một loại hàng hóa tài chính thực thụ vận hành theo các quy luật của thị trường tài chính.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là sự thiếu vắng một công trình phân tích có hệ thống về cơ sở lý luận của tín dụng nhà nước trong nền kinh tế thị trường gắn với tiến trình hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Các nghiên cứu trước đó chưa giải quyết thỏa đáng tính chất hàng hóa của trái phiếu chính phủ, chưa đánh giá toàn diện các phương thức phát hành và chưa xây dựng mô hình tổ chức định mức tín nhiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua các nội dung sau:

  1. Hệ thống hóa và bổ sung những nội dung lý luận cơ bản về tín dụng nhà nước và trái phiếu chính phủ;
  2. Phân tích, đánh giá và kiểm định dựa trên các số liệu định lượng về cơ cấu bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, cơ cấu vốn đầu tư, kết quả bán lẻ trái phiếu qua Kho bạc Nhà nước, kết quả đấu thầu tín phiếu qua thị trường tiền tệ, đấu thầu trái phiếu qua thị trường chứng khoán và bảo lãnh phát hành để làm rõ ưu điểm, hạn chế của từng phương thức phát hành trái phiếu chính phủ tại Việt Nam;
  3. Đề xuất quan điểm, nguyên tắc và định hướng chiến lược phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam đến năm 2020;
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao tính khả thi, hoàn thiện các phương thức phát hành và thành lập tổ chức định mức tín nhiệm nhằm giúp trái phiếu chính phủ trở thành hàng hóa chủ chốt trên thị trường chứng khoán.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hình thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ; văn bản khẳng định không nghiên cứu, phân tích thực trạng hay đề xuất giải pháp cho các hình thức tín dụng nhà nước khác như nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay thương mại ngân hàng (chỉ phân tích mối quan hệ tương quan), đồng thời không nghiên cứu mảng trái phiếu chính quyền địa phương.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn thị trường trái phiếu chính phủ tại Việt Nam, có nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và một số nước khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Thái Lan).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 1991–2006 (chia thành các giai đoạn 1991–1995, 1995–2000, 2000–2006 theo từng phương thức phát hành) và đề xuất định hướng chiến lược đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan, tác giả Lê Quang Cường đã điểm lại một số tài liệu học thuật và sách chuyên khảo tiêu biểu:

  • Tác phẩm "Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa – vấn đề và giải pháp" do Bộ Ngoại giao và Hợp tác đa phương chủ biên (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001), phản ánh các quan điểm và cách thức điều hành chính sách tín dụng nhà nước trong tiến trình hội nhập quốc tế.
  • Tác phẩm "Thị trường tài chính" của tác giả Lê Văn Tư (NXB Thống kê, 2004), cung cấp khung lý thuyết tổng thể về cơ cấu tổ chức và công cụ vận hành của thị trường tài chính trong nước.
  • Luận án Phó tiến sĩ kinh tế "Các biện pháp hoàn thiện công tác tín dụng nhà nước ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thanh Dương (năm 1996), tập trung luận giải cơ sở lý luận về tín dụng nhà nước, rút ra các bài học thực tiễn tại Việt Nam và kiến nghị biện pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động, sử dụng nguồn vốn này.
  • Luận án Tiến sĩ kinh tế "Hoàn thiện các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam đến năm 2020" của tác giả Sử Đình Thành (năm 2001), phân tích hệ thống các công cụ tài chính (trong đó có tín dụng nhà nước), đánh giá thực trạng điều hành công cụ tín dụng nhà nước giai đoạn 1986–2000 và đề xuất giải pháp phục vụ chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2020.

Tác giả luận án nhận định các công trình nêu trên đã thiết lập nền tảng lý luận ban đầu nhưng có những giới hạn nhất định:

  • Do bối cảnh thời gian nghiên cứu trước năm 2002, các tác giả đi trước chưa xem xét tín dụng nhà nước trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị và chính thức gia nhập WTO với yêu cầu mở cửa thị trường tài chính toàn diện.
  • Các công trình trước đây chủ yếu nhìn nhận trái phiếu chính phủ như một công cụ tài chính thụ động phục vụ thu hẹp thâm hụt ngân sách nhà nước, chưa tiếp cận một cách thấu đáo dưới góc độ trái phiếu chính phủ là một "hàng hóa tài chính" chuẩn mực trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
  • Chưa có nghiên cứu đi sâu mổ xẻ cụ thể từng phương thức phát hành (bán lẻ qua Kho bạc Nhà nước, đấu thầu tín phiếu qua thị trường tiền tệ, đấu thầu trái phiếu qua thị trường chứng khoán, bảo lãnh phát hành) để tìm ra các khiếm khuyết nội tại của từng kênh.
  • Chưa đề xuất được mô hình định mức tín nhiệm cụ thể cho Việt Nam để phục vụ xếp hạng trái phiếu chính phủ và phát triển thị trường nợ nội địa.

Luận án của Lê Quang Cường chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này bằng cách định vị lại vai trò của trái phiếu chính phủ là hàng hóa trung tâm trên thị trường nợ, gắn việc cải tổ phương thức phát hành với các định chế phụ trợ như tổ chức xếp hạng tín nhiệm và quản trị rủi ro đầu tư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận tín dụng nhà nước từ các khái niệm nền tảng của kinh tế học tài chính:

  • Khái niệm tín dụng nhà nước: Luận án định nghĩa tín dụng nhà nước là quan hệ vay mượn (đi vay và cho vay) giữa Nhà nước với các nhà nước khác, với các tổ chức tài chính quốc tế và các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành tín phiếu, trái phiếu chính phủ, chứng chỉ đầu tư hoặc ký kết hiệp định vay nợ. Quan hệ này vận hành dựa trên nguyên tắc hoàn trả, có thời hạn và có lãi. Nhà nước vừa là chủ thể đi vay để bù đắp thiếu hụt ngân sách và tài trợ hạ tầng, vừa là người cho vay lại đối với các chương trình mục tiêu quốc gia.
  • Bản chất và đặc điểm: Tín dụng nhà nước chứa đựng cả nội dung kinh tế và nội dung chính trị. Về kinh tế, nó phản ánh sự chuyển dịch tạm thời nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào ngân sách nhà nước. Về chính trị và xã hội, nó thể hiện uy tín của Chính phủ và sự quan tâm của Nhà nước đối với cộng đồng thông qua việc cung cấp tiện ích công cộng. Tuy tuân thủ các nguyên tắc tín dụng thông thường (tự nguyện, có hoàn trả), trong những hoàn cảnh đặc biệt, Nhà nước có thể sử dụng quyền lực chính trị để áp đặt tính cưỡng chế nhất định.
  • Khái niệm và phân loại trái phiếu chính phủ: Trái phiếu chính phủ là chứng khoán nợ do Nhà nước phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi của Nhà nước khi đến hạn. Tác giả phân loại trái phiếu chính phủ dựa trên bốn tiêu chí:
    1. Theo cơ cấu tài chính: Trái phiếu vĩnh viễn (perpetual/irredeemable bond), trái phiếu có lãi suất bằng không (zero-coupon bond), trái phiếu chỉ số kết hợp (index-linked bonds), trái phiếu thanh toán bằng hai đồng tiền (dual currency bonds);
    2. Theo phương thức điều chỉnh lãi suất: Trái phiếu lãi suất cố định, trái phiếu lãi suất thả nổi (floating-rate bonds/floater), trái phiếu lãi suất thả nổi ngược (inverse-floating rate securities);
    3. Theo thị trường phát hành: Trái phiếu quốc nội và trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế;
    4. Theo cách thức ghi tên chủ sở hữu: Trái phiếu vô danh và trái phiếu ký danh.
  • Lý thuyết về rủi ro và phòng ngừa rủi ro: Văn bản phân tích tám loại rủi ro trong đầu tư trái phiếu chính phủ: rủi ro lãi suất (interest rate risk), rủi ro tái đầu tư (reinvestment risk), rủi ro quyền chọn mua (call risk), rủi ro vỡ nợ (default risk), rủi ro lạm phát (inflation risk), rủi ro tỷ giá hối đoái (exchange-rate risk), rủi ro thanh khoản (liquidity risk), và rủi ro biến động giá (volatility risk). Tác giả đề cập đến chiến lược miễn dịch (immunization strategy) nhằm cân bằng giữa rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư.
  • Lý thuyết định mức tín nhiệm (credit rating): Phân tích chức năng của tổ chức định mức tín nhiệm độc lập trong việc giảm thiểu bất đối xứng thông tin, nâng cao tính minh bạch thị trường và hỗ trợ nhà quản lý tài chính.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án:

  • Thuộc hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả. Tác giả không xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng mà sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phương pháp logic và lịch sử; phương pháp so sánh đối chiếu và thống kê mô tả xu hướng.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Bộ Tài chính (báo cáo cơ cấu bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các ấn phẩm của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ

Chương 1 thiết lập khung lý luận toàn diện về tín dụng nhà nước và trái phiếu chính phủ, bao gồm các nội dung cốt lõi:

  • Sự cần thiết khách quan và vai trò của tín dụng nhà nước trong nền kinh tế thị trường: Tín dụng nhà nước thực hiện ba vai trò trọng yếu: (1) Huy động vốn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước thay cho việc in tiền gây lạm phát hoặc tăng thuế gây đình trệ sản xuất; (2) Huy động vốn tập trung tài trợ cho các công trình kết cấu hạ tầng then chốt có thời gian thu hồi vốn dài; (3) Tạo hàng hóa chuẩn cho thị trường tài chính, tham gia điều tiết tiền tệ và kiểm chế lạm phát hoặc giảm phát thông qua nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương.
  • Mối quan hệ tương quan giữa các hình thức tín dụng nhà nước: Tác giả phân tích tính hai mặt (hợp tác và cạnh tranh) giữa ba hình thức: viện trợ phát triển chính thức (ODA), vay nợ ngân hàng thương mại, và phát hành trái phiếu chính phủ. Về mặt hợp tác, chúng cùng chia sẻ gánh nặng tài trợ phát triển, hỗ trợ bổ sung dự trữ ngoại hối và cung ứng vốn đối ứng. Về mặt cạnh tranh, sự gia tăng phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao có thể lấn át, cạnh tranh trực tiếp với nguồn tiền gửi của các ngân hàng thương mại, buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất huy động.
  • Bốn phương thức phát hành trái phiếu chính phủ: Phân tích cơ chế vận hành, ưu điểm và nhược điểm của: bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước (phát hành trực tiếp), đấu thầu qua thị trường chứng khoán, đại lý phát hành, và bảo lãnh phát hành.
  • Quản trị tám nhóm rủi ro đầu tư trái phiếu chính phủ: Làm rõ sự dịch chuyển ngược chiều giữa rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư, làm nền tảng cho chiến lược phòng thủ và giảm thiểu rủi ro.
  • Thiết chế định mức tín nhiệm và kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu lịch sử hình thành tổ chức xếp hạng tín nhiệm từ Hoa Kỳ (John Moody 1909, Standard & Poor's 1922, Fitch), Canada (CBRS 1972), Nhật Bản (JBRI 1975). Phân tích cấu trúc tổ chức của Moody's (Hình 1.1 và Hình 1.2), Công ty Định mức tín nhiệm và thông tin quốc gia Hàn Quốc (Hình 1.3), Dịch vụ Định mức tín nhiệm thông tin Thái Lan (TRIS - Hình 1.4). Rút ra các bài học về thị trường trái phiếu tại Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Đông Á nhằm áp dụng cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng về sử dụng các phương thức phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam thời gian qua

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng tổ chức phát hành trái phiếu chính phủ tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử trước và sau Đổi mới, trọng tâm là giai đoạn 1991–2006. Tác giả đánh giá chi tiết từng phương thức phát hành dựa trên các chuỗi số liệu thực tế:

Phương thức phát hành / Hoạt động thị trường Giai đoạn số liệu khảo sát Nguồn bảng số liệu trong văn bản Đặc điểm và kết quả chủ yếu phản ánh trong văn bản
Bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước 1991–2006 Bảng 2.1, Hình 2.1 Áp dụng từ năm 1991. Vốn huy động vào ngay ngân sách, nhưng tạo chi phí cơ hội cao, áp lực chỉ tiêu hành chính, lãi suất ấn định trước, thiếu tính thanh khoản.
Đấu thầu tín phiếu kho bạc qua thị trường tiền tệ 1995–2006 Bảng 2.2, Hình 2.2 Tổ chức qua Ngân hàng Nhà nước. Là công cụ hỗ trợ điều tiết thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.
Hoạt động thị trường mở (TTM) 2000–2005 Bảng 2.3 Sử dụng tín phiếu, trái phiếu làm công cụ giao dịch nhằm điều tiết khối lượng tiền mặt lưu thông.
Đấu thầu trái phiếu chính phủ qua TTCK 2000–2006 Bảng 2.4, Hình 2.3 Thực hiện qua Trung tâm Giao dịch Chứng khoán. Tốc độ tập trung vốn nhanh nhưng đối tượng tham gia còn hẹp, kỳ hạn chưa đa dạng.
Phát hành trái phiếu qua bảo lãnh 2000–2006 Bảng 2.5, Hình 2.4 Đảm bảo khối lượng tiêu thụ nhưng mức phí bảo lãnh cao; tạo sự cạnh tranh bất lợi với phương thức đấu thầu khi triển khai cùng thời điểm.
Niêm yết và giao dịch trái phiếu tại TTGDCK TP.HCM 2000–2004 Bảng 2.6, Bảng 2.7, Bảng 2.8, Bảng 2.9 Số lượng loại trái phiếu niêm yết tăng nhưng khối lượng giao dịch thứ cấp còn thấp; giá trị niêm yết/GDP ở mức nhỏ.

Những phát hiện và tồn tại lớn được luận án chỉ ra trong Chương 2 bao gồm:

  • Phương thức bán lẻ qua Kho bạc Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong thời gian dài nhưng mang nặng tính chất vận động hành chính, biến Kho bạc thành nơi phát hành kiêm thủ quỹ, gây xáo trộn hoạt động thường xuyên và không phản ánh đúng quy luật thị trường.
  • Đấu thầu qua thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán chưa thu hút được đông đảo nhà đầu tư ngoài hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước. Cơ chế định lãi suất trần của Bộ Tài chính làm giảm tính linh hoạt của các phiên đấu thầu.
  • Phương thức bảo lãnh phát hành bị lạm dụng trong một số thời điểm đối với loại chứng khoán rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, làm phát sinh chi phí phát hành lớn cho ngân sách nhà nước.
  • Thị trường giao dịch thứ cấp tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh kém sôi động; trái phiếu sau khi phát hành chủ yếu được các tổ chức tín dụng nắm giữ đến ngày đáo hạn để trích lập dự trữ hoặc cầm cố, không tạo ra tính thanh khoản cần thiết của một hàng hóa tài chính.

Chương 3: Hoàn thiện phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ ở Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược đến năm 2020 và các nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Định hướng chiến lược phát triển thị trường trái phiếu chính phủ đến năm 2020: Xác định mục tiêu đưa thị trường trái phiếu chính phủ trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực cho đầu tư phát triển; tuân thủ các nguyên tắc thị trường, đảm bảo tính công khai, minh bạch và an toàn nợ quốc gia.
  • Đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu chính phủ: Đa dạng hóa về kỳ hạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn từ 10 đến 15 năm trở lên); phát triển các loại trái phiếu có cơ cấu lãi suất linh hoạt như trái phiếu lãi suất thả nổi (floater) có biên độ, trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; đa dạng hóa loại tiền tệ phát hành.
  • Hoàn thiện phương thức bán lẻ qua Kho bạc Nhà nước: Thu hẹp dần quy mô bán lẻ trực tiếp thủ công; hiện đại hóa mạng lưới Kho bạc, chuyển đổi vai trò của Kho bạc sang quản lý ngân quỹ và thanh toán, tách bạch chức năng kinh doanh chứng khoán.
  • Hoàn thiện phương thức đấu thầu tín phiếu và nghiệp vụ thị trường mở: Tăng cường phối hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong việc lập lịch biểu phát hành định kỳ, xác định khối lượng gọi thầu và điều hành lãi suất phù hợp với cung cầu tiền tệ.
  • Hoàn thiện cơ chế phát hành và chuyển nhượng qua thị trường chứng khoán: Lấy phương thức đấu thầu qua thị trường chứng khoán làm kênh phát hành chủ đạo; mở rộng thành phần tham gia đấu thầu sang các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí; hoàn thiện hệ thống thanh toán, lưu ký tập trung nhằm thúc đẩy giao dịch thứ cấp.
  • Xây dựng mô hình tổ chức định mức tín nhiệm Việt Nam: Tác giả đề xuất mô hình cơ cấu tổ chức cụ thể (Hình 3.1) cho công ty định mức tín nhiệm tại Việt Nam, tiếp thu kinh nghiệm từ mô hình của Moody's, Hàn Quốc và TRIS Thái Lan, đảm bảo tính độc lập chuyên môn trong phân tích rủi ro nợ.
  • Đề phòng và giảm thiểu rủi ro trong đầu tư trái phiếu chính phủ: Thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro lãi suất, tỷ giá và lạm phát; thực hiện chính sách công khai thông tin ngân sách và quản lý nợ công bền vững.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của tác giả trong phần mở đầu và kết luận, luận án mang lại những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa một cách chọn lọc và lập luận rõ ràng luận cứ xem xét trái phiếu chính phủ dưới tư cách là một "hàng hóa tài chính" chủ chốt trên thị trường tài chính hơn là một công cụ huy động vốn vay thuần túy của Nhà nước. Tác giả bổ sung hàm lượng khoa học khẳng định tính chất hàng hóa của trái phiếu, nhấn mạnh vai trò của trái phiếu chính phủ trong việc đa dạng hóa hàng hóa cho thị trường vốn và thị trường tiền tệ, tạo lãi suất tham chiếu và nâng cao "tính khả thi" (marketability) trên thị trường nợ.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, tổng kết thực trạng và chỉ ra có hệ thống những thành tựu cũng như khiếm khuyết nội tại của từng phương thức phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam giai đoạn 1991–2006 (bán lẻ qua Kho bạc Nhà nước, đấu thầu tín phiếu qua thị trường tiền tệ, đấu thầu trái phiếu qua thị trường chứng khoán, bảo lãnh phát hành).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình định chế: Luận án xây dựng định hướng chiến lược phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam đến năm 2020; tập trung vào các giải pháp gia tăng ưu điểm của trái phiếu chính phủ so với các chứng khoán khác nhằm thu hút nhà đầu tư. Đặc biệt, tác giả đã thiết kế sơ đồ mô hình cơ cấu tổ chức định mức tín nhiệm tại Việt Nam (Hình 3.1) nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của thị trường chứng khoán nợ trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án đã nêu rõ giới hạn nghiên cứu:

  • Đề tài chỉ giới hạn khảo sát trong khuôn khổ hình thức huy động vốn tín dụng nhà nước bằng trái phiếu chính phủ do cơ quan trung ương phát hành, không nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho các kênh tín dụng nhà nước khác như ODA hay vay nợ thương mại của hệ thống ngân hàng (chỉ phân tích mối quan hệ tương quan).
  • Luận án hoàn toàn không nghiên cứu mảng trái phiếu chính quyền địa phương (municipal bonds) do đặc thù phân cấp ngân sách và khuôn khổ pháp lý riêng biệt tại thời điểm đó.
  • Nguồn số liệu định lượng sơ cấp và thứ cấp của luận án dừng lại ở mốc cuối năm 2006.

Từ các giới hạn này, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng bao gồm:

  • Nghiên cứu cơ chế phát hành và quản lý nợ đối với trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công trình được chính phủ bảo lãnh trong giai đoạn hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước;
  • Đánh giá tác động thực tế của việc thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm nội địa độc lập đối với chi phí huy động vốn của Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Luận án cung cấp hệ thống phân loại chi tiết về các sản phẩm trái phiếu (floater, inverse floater, index-linked bonds), lý thuyết về 8 nhóm rủi ro đầu tư chứng khoán nợ và tổng quan kinh nghiệm quốc tế về thiết chế định mức tín nhiệm (Moody's, TRIS, mô hình Hàn Quốc).
  • Đối với các cơ quan quản lý chính sách (Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Luận án cung cấp các phân tích so sánh giữa phương thức phát hành trực tiếp (bán lẻ) và phát hành qua đấu thầu/bảo lãnh, chỉ ra sự cần thiết phải giảm bớt can thiệp hành chính vào lãi suất phát hành và hỗ trợ định hình chính sách phát triển thị trường trái phiếu đến năm 2020.
  • Đối với các định chế tài chính trung gian, ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán: Phần phân tích các kỹ thuật đấu thầu, bảo lãnh và rủi ro lãi suất/tái đầu tư là nguồn tư liệu hữu ích cho việc xây dựng danh mục đầu tư và quản trị rủi ro thanh khoản.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân tích những nhược điểm chủ yếu nào của phương thức bán lẻ trái phiếu qua hệ thống Kho bạc Nhà nước? Văn bản chỉ ra phương thức bán lẻ trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước gây xáo trộn hoạt động quản lý quỹ ngân sách hàng ngày, chi phí tiêu thụ cao (đặc biệt là chi phí cơ hội), tạo áp lực hành chính do phân bổ chỉ tiêu cho từng địa phương, tiến độ huy động vốn chậm và trái phiếu được bán theo mệnh giá, lãi suất định sẵn chứ không hình thành qua cơ chế đấu thầu hay thỏa thuận thị trường.

2. Mối quan hệ tương quan giữa ODA, vay nợ ngân hàng và phát hành trái phiếu chính phủ được luận án giải thích như thế nào? Văn bản phân tích mối quan hệ này dưới hai trạng thái: hợp tác và cạnh tranh. Hợp tác thể hiện ở việc chia sẻ gánh nặng nợ công, cùng bổ sung nguồn vốn ngoại tệ và ổn định tỷ giá hối đoái. Cạnh tranh thể hiện ở việc nếu huy động trái phiếu chính phủ với lãi suất cao sẽ cạnh tranh nguồn vốn nhàn rỗi với tiền gửi ngân hàng thương mại; ngược lại, nếu kênh trái phiếu không huy động đủ vốn thì Nhà nước buộc phải chuyển hướng sang vay ngân hàng hoặc ODA dù phải chịu ràng buộc khắt khe.

3. Tám loại rủi ro trong đầu tư trái phiếu chính phủ được luận án định danh là gì? Tám loại rủi ro được tác giả phân tích tại Chương 1 gồm: rủi ro lãi suất (interest rate risk), rủi ro tái đầu tư (reinvestment risk), rủi ro quyền chọn mua (call risk), rủi ro vỡ nợ (default risk), rủi ro lạm phát (inflation risk), rủi ro tỷ giá hối đoái (exchange-rate risk), rủi ro thanh khoản (liquidity risk), và rủi ro biến động giá (volatility risk).

4. Luận án đã tham khảo mô hình tổ chức định mức tín nhiệm của những quốc gia nào để đề xuất cho Việt Nam? Luận án đã phân tích cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của các công ty định mức tín nhiệm tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (tiêu biểu là tập đoàn Moody's), Công ty Định mức tín nhiệm và thông tin quốc gia Hàn Quốc, và Dịch vụ Định mức tín nhiệm thông tin Thái Lan (TRIS).

5. Vì sao luận án nhấn mạnh phải xem trái phiếu chính phủ là một "hàng hóa tài chính" thay vì chỉ là "công cụ vay nợ"? Theo luận án, nếu chỉ xem là công cụ vay nợ, Nhà nước sẽ áp đặt lãi suất và khối lượng theo nhu cầu chi tiêu của ngân sách, bỏ qua các quy luật cung cầu. Khi được nhìn nhận là một hàng hóa tài chính chủ chốt, trái phiếu chính phủ phải tuân thủ cơ chế định giá thị trường, tham gia điều tiết lưu thông tiền tệ qua nghiệp vụ thị trường mở và tạo ra đường cong lãi suất tham chiếu chuẩn cho toàn bộ thị trường tài chính.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Quang Cường là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương thức huy động vốn tín dụng nhà nước thông qua công cụ trái phiếu chính phủ tại Việt Nam giai đoạn 1991–2006. Tác giả đã luận giải một cách có căn cứ sự cần thiết phải chuyển đổi tính chất của trái phiếu chính phủ từ một công cụ vay nợ thuần túy sang hàng hóa tài chính trung tâm trên thị trường nợ. Trên cơ sở phân tích toàn diện bốn phương thức phát hành thực tế, luận án đã xây dựng định hướng phát triển thị trường đến năm 2020 gắn liền với việc đa dạng hóa sản phẩm và thiết lập mô hình định mức tín nhiệm độc lập tại Việt Nam.