Luận văn: Phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng sang tiếng Anh trong văn học 1930 - 1945

Nghiên cứu các phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng tiếng Việt sang tiếng Anh qua ngữ liệu văn học 1930 - 1945, phân tích đặc điểm và chiến lược dịch thuật.

Trường đại học

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Tác giả

Phạm Thị Diệu Anh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2026

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chuyển dịch từ ngữ lóng trong văn học 1930 1945

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ghi dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của xã hội đô thị hóa. Thời kỳ này chứng kiến làn sóng giao thoa văn hóa Đông - Tây sâu sắc. Các nhà văn hiện thực phê phán đưa tiếng lóng vào tác phẩm như một công cụ nghệ thuật đắc lực. Lớp từ ngữ đặc thù này phản ánh chân thực lối sống của nhiều tầng lớp. Đó là tầng lớp trí thức Tây học, tiểu thị dân và giới hạ lưu xã hội. Tiếng lóng mang tính phi chuẩn hóa rất cao. Chúng sở hữu sắc thái biểu cảm phong phú và giá trị định danh biểu trưng độc đáo. Nhiều từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Pháp được Việt hóa linh hoạt. Chuyển dịch lớp từ này sang tiếng nước ngoài là một nhiệm vụ dịch thuật phức tạp. Người dịch không chỉ xử lý vỏ ngữ âm hay nghĩa đen của từ. Thách thức lớn nằm ở việc truyền tải bầu không khí lịch sử và thái độ châm biếm sâu cay. Bản dịch cần bảo lưu trọn vẹn phong cách cá nhân của từng tác giả lớn. Do đó, nghiên cứu phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng giai đoạn này có giá trị học thuật sâu sắc.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự nở rộ của tiếng lóng

Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Chế độ thực dân nửa phong kiến tạo ra nhiều xáo trộn xã hội. Các đô thị như Hà Nội hay Sài Gòn phát triển nhanh chóng. Quá trình tiếp xúc văn hóa phương Tây diễn ra trên diện rộng. Tầng lớp thị dân mới hình thành với lối sống học đòi kệch cỡm. Đồng thời, tầng lớp dân nghèo thành thị cũng gia tăng nhanh chóng. Sự phân hóa giai cấp ngày càng trở nên gay gắt hơn. Tiếng lóng nảy sinh như một phương tiện giao tiếp nội bộ độc đáo. Giới trí thức dùng tiếng lóng để thể hiện sự tân thời. Giới lưu manh dùng tiếng lóng làm mật mã che giấu hành vi. Các nhà văn đã khéo léo đưa hiện thực sinh động đó vào văn chương.

1.2. Định nghĩa và tiêu chí xác định từ ngữ lóng

Tiếng lóng là biến thể ngôn ngữ thuộc phạm vi phương ngữ xã hội. Ngôn ngữ học xác định đơn vị lóng qua bốn tiêu chí then chốt. Thứ nhất, từ ngữ mang tính phi chuẩn mực hoặc thuần túy khẩu ngữ. Thứ hai, đơn vị này gắn bó mật thiết với cộng đồng giao tiếp nhất định. Thứ ba, từ lóng chứa đựng sắc thái biểu cảm và giá trị văn hóa nổi bật. Thứ tư, chúng nằm ngoài lớp từ vựng trung tính thông dụng hàng ngày. Từ ngữ lóng hình thành qua ba con đường cơ bản. Đó là gán nghĩa mới cho từ vựng sẵn có, biến đổi ngữ âm và định danh biểu trưng. Lớp từ này phản ánh trực tiếp tư duy thẩm mỹ của thời đại. Chúng tạo nên bản sắc ngôn từ độc đáo trong tác phẩm.

II. Khó khăn khi chuyển dịch từ ngữ lóng trong văn học 1930 1945

Chuyển dịch tiếng lóng văn học giai đoạn 1930 - 1945 đặt ra bài toán khó cho dịch giả. Khó khăn đầu tiên xuất phát từ khoảng cách thời gian và văn hóa. Nhiều từ ngữ lóng gắn chặt với hoàn cảnh xã hội thuộc địa đã mai một. Người đọc ngôn ngữ đích khó hình dung ngữ cảnh lịch sử thời bấy giờ. Khó khăn thứ hai nằm ở tính đa nghĩa và tính lâm thời của tiếng lóng. Nghĩa của từ thường biến đổi tùy theo giọng điệu nhân vật. Một từ lóng có thể vừa biểu đạt sự khinh miệt, vừa mang sắc thái bông đùa. Nếu dịch thô thiển theo nghĩa đen, tác phẩm sẽ mất đi chất văn học. Nguy cơ làm phẳng hóa phong cách nghệ thuật luôn hiện hữu. Tác giả Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao dùng tiếng lóng để xây dựng căn cước xã hội. Dịch sai sẽ làm sai lệch bản chất nhân vật trong nguyên tác. Ngoài ra, việc thiếu vắng các từ ngữ tương đương tuyệt đối trong ngôn ngữ đích gây cản trở lớn. Bản dịch dễ rơi vào tình trạng giải thích dài dòng hoặc mất đi tính biểu cảm.

2.1. Rào cản bất tương đồng về văn hóa và lịch sử

Sự khác biệt văn hóa tạo ra khoảng trống lớn trong quá trình chuyển dịch. Tiếng lóng thời kỳ 1930 - 1945 gắn liền với những thiết chế xã hội cũ. Lối sống lai căng phương Tây tạo nên nhiều từ ngữ pha tạp đặc thù. Các từ mượn gốc Pháp như món đét-se hay lớp ê-lê-măng-te thể hiện tâm lý sính ngoại. Những từ ngữ này đóng vai trò như một nhãn dán đẳng cấp xã hội. Độc giả phương Tây thời hiện đại không dễ nhận biết hàm ý trào phúng ẩn sau vỏ bọc từ ngữ đó. Thêm vào đó, tiếng lóng giới hạ lưu phản ánh hiện thực cùng quẫn. Nếu chỉ dịch thuần nghĩa từ vựng, yếu tố hiện thực phê phán sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.

2.2. Nguy cơ mất mát sắc thái châm biếm và trào lộng

Ngôn ngữ văn học 1930 - 1945 chứa đựng tính thẩm mỹ đa tầng bậc. Tiếng lóng trong giai đoạn này thường đi kèm sự mỉa mai sâu sắc. Điển hình là các hình tượng Sở Khanh hay thuốc Mán trong ngòi bút của các nhà văn. Những cách gọi này mang tính biểu trưng cao và giàu giá trị tạo hình. Chuyển dịch không khéo léo dễ biến các sáng tạo độc đáo thành từ ngữ thông thường. Bản dịch mất đi tiếng cười chua cay vốn có trong nguyên tác. Bên cạnh đó, việc trung tính hóa từ ngữ làm mờ nhạt cá tính nhân vật. Người đọc bản dịch không thể cảm nhận hết sự giả dối của xã hội đương thời. Thất bại trong dịch thuật văn học thường bắt nguồn từ sự thiếu hụt cảm quan nghệ thuật.

III. Hệ thống phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng văn học 1930 1945

Để giải quyết các rào cản trên, dịch giả cần áp dụng hệ thống thủ pháp khoa học. Khung lý thuyết của Nguyễn Hồng Cổn cung cấp mười thủ pháp chuyển dịch linh hoạt. Tùy thuộc vào cấu trúc và chức năng của từ lóng, thao tác dịch thuật sẽ thay đổi tương ứng. Nhóm thủ pháp tương đương bao gồm tương đương văn hóa, tương đương dụng học và tương đương chức năng. Các thủ pháp này tìm kiếm những đơn vị có sức nặng biểu đạt ngang hàng trong ngôn ngữ đích. Khi gặp các từ ngữ mượn gốc Pháp, thủ pháp phiên chuyển và sao phỏng phát huy hiệu quả cao. Chúng giúp lưu giữ dấu ấn giao lưu ngôn ngữ thời thuộc địa. Ngược lại, thủ pháp phân tích nghĩa theo ngữ cảnh hỗ trợ bóc tách tầng nghĩa hàm ẩn. Dịch giả cũng có thể vận dụng thủ pháp dùng từ có nghĩa rộng hơn hoặc hẹp hơn. Việc lựa chọn phương thức dịch phụ thuộc chặt chẽ vào chiến lược tổng thể. Chiến lược đồng hóa hướng về người đọc tiếp nhận. Chiến lược dị hóa ưu tiên bảo tồn bản sắc của văn bản nguồn.

3.1. Nhóm thủ pháp tương đương và phân tích ngữ cảnh

Thủ pháp tương đương chức năng và tương đương dụng học đóng vai trò trung tâm. Phương pháp này tái tạo chính xác hiệu ứng tâm lý mà từ ngữ tạo ra. Người dịch tìm từ lóng tiếng Anh có cùng cấp độ thân mật hoặc suồng sã. Khi không có từ tương đương, thủ pháp phân tích ngữ cảnh sẽ can thiệp kịp thời. Dịch giả giải mã ẩn ý châm biếm thông qua hành vi của nhân vật. Thủ pháp tương đương mô tả cũng được áp dụng một cách chừng mực. Nó cung cấp lời giải thích ngắn gọn ngay trong dòng văn. Sự kết hợp này bảo tồn nội dung thông điệp mà không phá vỡ mạch cảm xúc. Văn phong của nguyên tác nhờ vậy vẫn giữ được sinh khí tự nhiên.

3.2. Chiến lược đồng hóa và dị hóa trong dịch từ lóng

Chiến lược đồng hóa đưa người đọc mục tiêu lại gần thế giới văn bản. Dịch giả sử dụng tiếng lóng hiện đại của tiếng Anh để thay thế. Cách xử lý này tạo cảm giác thân thuộc và dễ hiểu cho độc giả. Ngược lại, chiến lược dị hóa giữ lại nét xa lạ của bối cảnh nguyên bản. Các từ lóng gốc Pháp như ô-ten hay bíp-phê thường được chuyển đổi bằng thủ pháp phiên chuyển. Thủ pháp sao phỏng cũng phản ánh trung thực cấu trúc ngôn ngữ gốc. Dị hóa giúp bảo lưu toàn vẹn không khí lịch sử Việt Nam thế kỷ hai mươi. Sự dung hòa khéo léo giữa hai chiến lược mang lại bản dịch chuẩn xác và giàu sức sống nghệ thuật.

IV. Giá trị ứng dụng dịch từ ngữ lóng trong văn học 1930 1945

Khảo sát phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng mở ra hướng tiếp cận thực tiễn cho dịch thuật văn học. Kết quả nghiên cứu chứng minh vai trò then chốt của việc phân loại chức năng ngữ nghĩa. Mỗi nhóm từ lóng đòi hỏi một thao tác xử lý chuyên biệt. Từ ngữ lóng phân định đẳng cấp xã hội cần chiến lược dị hóa để giữ nguyên màu sắc lịch sử. Ngược lại, tiếng lóng biểu cảm đời thường phù hợp hơn với phương thức tương đương dụng học. Các phát hiện này hỗ trợ dịch giả văn học nâng cao chất lượng bản dịch Việt - Anh. Công trình cũng đóng góp tài liệu quý báu cho công tác giảng dạy lý thuyết dịch. Học viên có thể quan sát trực quan sự chuyển dịch các đơn vị phi chuẩn mực. Việc chuyển tải thành công tiếng lóng giúp lan tỏa chiều sâu của văn học hiện thực Việt Nam ra thế giới. Tác phẩm văn học giữ nguyên vẹn giá trị tư tưởng và sức hấp dẫn vốn có.

4.1. Đóng góp đối với thực hành dịch thuật văn học

Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ công cụ định hướng chi tiết cho người dịch. Dịch giả tránh được việc dịch nguyên văn một cách máy móc. Các tiêu chí phân loại giúp nhận diện đúng bản chất từng đơn vị lóng. Bản dịch hạn chế tình trạng mất mát phong cách và biến dạng ngữ nghĩa. Dịch giả có thể chủ động cân bằng giữa yếu tố thẩm mỹ và độ chính xác thông tin. Quá trình chọn lựa từ ngữ diễn ra khoa học và có căn cứ lý luận rõ ràng. Tác phẩm dịch thuật nhờ đó đạt được tính tương đương giao tiếp cao. Độc giả quốc tế tiếp cận trọn vẹn tinh thần nhân văn của tác phẩm.

4.2. Giá trị tham khảo cho nghiên cứu ngôn ngữ học

Luận văn tạo tiền đề vững chắc cho các nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ tiếp theo. Ngữ liệu tiếng lóng giai đoạn 1930 - 1945 là nguồn dữ liệu lịch sử quý giá. Các nhà nghiên cứu có thêm căn cứ đánh giá sự biến đổi của khẩu ngữ tiếng Việt. Mô hình kết hợp giữa ngôn ngữ học xã hội và dịch thuật học mở ra hướng đi mới. Các cơ sở đào tạo có thể sử dụng ngữ liệu này trong giảng dạy biên dịch chuyên sâu. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng phân tích diễn ngôn và xử lý từ ngữ văn hóa đặc thù. Nghiên cứu khẳng định giá trị bền vững của tiếng lóng trong đời sống văn học dân tộc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/10/2026
Khảo sát phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng từ tiếng việt sang tiếng anh trên ngữ liệu các tác phẩm văn học việt nam giai đoạn 1930 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng trình bày các lý thuyết nền tảng về dịch thuật văn học và các chiến lược xử lý đơn vị ngôn ngữ đặc thù trong quá trình chuyển ngữ. ● Chương 2: Đặc điểm của từ ngữ lóng trong các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Chương này tiến hành thống kê, phân loại và miêu tả 182 đơn vị lóng từ ngữ liệu khảo sát. Qua đó, chương này miêu tả cấu tạo, ngữ nghĩa và dụng ý nghệ thuật của việc sử dụng tiếng lóng trong bối cảnh văn hóa - xã hội đương thời.

● Chương 3: Các phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng từ tiếng Việt sang tiếng Anh từ một số tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Trên cơ sở miêu tả ở chương 2, chương này tiến hành đối chiếu văn bản nguồn và văn bản đích để xác định các phương thức chuyển dịch cụ thể. Nghiên cứu bước đầu đánh giá hiệu quả của các chiến lược dịch thuật trong 7 việc truyền tải giá trị văn hóa và phong cách ngôn ngữ của tác phẩm ra ngôn ngữ đích. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn Về mặt khoa học, nghiên cứu này kỳ vọng góp phần bổ sung tri thức về hiện tượng ngôn ngữ lóng trong giai đoạn 1930-1945, cũng như làm giàu lý luận dịch thuật bằng cách hệ thống hóa và phân loại các chiến lược xử lý từ ngữ lóng, qua đó làm sâu sắc hơn hiểu biết về sự tương đương trong dịch thuật liên văn hóa.

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu hy vọng có thể cung cấp những quan sát và gợi ý hữu ích cho các dịch giả khi đối mặt với từ ngữ lóng trong văn học, giúp nâng cao chất lượng dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Anh. Từ đó, độc giả quốc tế có thể tiếp cận và hiểu chính xác hơn giá trị nghệ thuật cũng như bối cảnh văn hóa mà các tác phẩm này phản ánh. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan nghiên cứu 1.

Tình hình nghiên cứu tiếng lóng trên thế giới Hiện tượng ngôn ngữ lóng từ lâu đã là đối tượng khảo sát trọng tâm của ngôn ngữ học xã hội và từ vựng học thế giới. Theo từ điển Britannica, thuật ngữ tiếng lóng (slang) được xuất hiện lần đầu trong các ấn phẩm chứa các diễn ngôn của giới tội phạm, tai tiếng tại Anh từ những năm 1800, tuy nhiên không thể xác định nó đã được sử dụng trước đó bao lâu. Dù vậy phải đến thế kỷ 20 với sự ra đời của phân ngành ngôn ngữ học xã hội, dường như tiếng lóng mới được xem xét thấu đáo hơn cả với loạt nghiên cứu không tách rời hiện tượng ngôn ngữ này với các đặc tính xã hội của nó. Khi tổng hợp lại lịch sử các nghiên cứu quốc tế này, PGS.

Nguyễn Văn Khang (2001, tr.13) cũng chỉ ra rằng ở các quốc gia châu Âu khác như Pháp hay Nga, biến thể này cũng đã được đưa vào giảng dạy và trở thành một nội dung quan trọng trong các giáo trình ngôn ngữ học ngay từ đầu thế kỷ 20. Về đặc điểm ngữ dụng, các nghiên cứu tập trung các dấu hiệu “phi chuẩn” của tiếng lóng, cũng như cách chúng chỉ ra “danh tính nội bộ” của người sử dụng. Trong cuốn “Slang and Euphemism”, Richard A. Spears (1981) cho rằng tiếng lóng không phù hợp với các vấn đề nghiêm túc và trang trọng, và chúng thường đồng nghĩa với các thuật ngữ tiêu chuẩn.

Tiếng lóng còn được khảo sát trong bối cảnh các nhóm sử dụng được chia theo độ tuổi, vị trí xã hội, nghề nghiệp,. Teresa Labov (1992) chỉ ra rằng việc hình thành và sử dụng tiếng lóng trong lứa tuổi thanh thiếu niên là bởi chúng phải đối diện với các vấn đề danh tính cá nhân, các thay đổi của tuổi dậy thì, vấn đề lựa chọn bạn bè sao cho phù hợp với (và cuối cùng dẫn đến điều chỉnh) các giá trị và thái độ, đồng thời ngăn không cho người lớn có thể hiểu được hoàn toàn. Ý thức giữ bí mật để khẳng định căn cước cá nhân này cũng chính là tiền đề để các học giả mở rộng nghiên cứu tiếng lóng dưới góc độ tâm lý tập thể. 9 Một số nhà nghiên cứu khảo sát tiếng lóng dựa trên nền tảng tâm lý xã hội của người sử dụng.

Theo Eble (1996) trong cuốn “Slang and sociability: In-group language among college students”, tiếng lóng được sử dụng để “thiết lập hoặc củng cố đặc tính xã hội hoặc gắn kết trong một nhóm hoặc một xu thế trong một tập thể xã hội”. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng tiếng lóng là công cụ mã hóa nhằm che giấu những thông tin bí mật hoặc những hành vi không trung thành với các quy ước xã hội (Andersson & Trudgill, 1992) hoặc đánh dấu những khác biệt xã hội (Allen, 1998). Thời kỳ bùng nổ mạng xã hội và thông tin điện tử cũng chứng kiến một luồng quan điểm mới về tiếng lóng. Kory Stamper, một nhà từ điển học đã trình bày trong bài báo “Slang for the Ages” (2014) rằng nguồn gốc của nhiều từ ngữ lóng có thể không hề hời hợt hay thiếu nền tảng lành mạnh, mà ngược lại nên được nhìn nhận như một phần của dòng chảy ngôn ngữ.

Quan điểm này cũng tương đồng với hướng nghiên cứu về 网 络 流 行 语 (internet buzzwords) tại Trung Quốc đầu thế kỷ XXI. Nhiều nghiên cứu cho rằng tiếng lóng mạng vượt ra khỏi phạm vi của sự biến đổi từ vựng đơn thuần, bởi nó đồng thời phản ánh các đặc điểm xã hội, văn hóa và tâm lý của người sử dụng ngôn ngữ trong môi trường số (Li, 2024). Tình hình nghiên cứu tiếng lóng ở Việt Nam Tại Việt NamTrong nghiên cứu Việt ngữ học, tiếng lóng thường được xem xét như một bộ phận hữu cơ của từ vựng tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học xã hội. Hệ thống hóa lý thuyết về hiện tượng này, Nguyễn Thiện Giáp (2002) trong cuốn sách “Từ vựng học tiếng Việt” đã trình bày từ ngữ lóng như một “lớp hạng” đặc thù khi phân chia theo phạm vi sử dụng.

Đóng góp một cái nhìn toàn diện hơn, công trình “Tiếng lóng Việt Nam" của Nguyễn Văn Khang (2001) được nhìn nhận là tài liệu tương đối hoàn chỉnh khảo sát đặc điểm của biến thể này; tác giả đã chỉ ra con 10 đường hình thành, phương thức tạo từ cũng như chức năng của chúng trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân. Ở góc độ tập hợp tư liệu, Đoàn Tử Huyến và Lê Thị Yến (2008) với tựa sách “Sổ tay Từ-ngữ lóng tiếng Việt” cũng thể hiện nỗ lực lớn trong việc thu thập và lý giải ngữ nghĩa thực tế của các đơn vị lóng. Đặt trong bối cảnh đương đại, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu tập trung mạnh mẽ vào mối liên hệ giữa ngôn ngữ lóng và các yếu tố xã hội chi phối, đặc biệt là không gian mạng. Trong nghiên cứu “Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay”, Trịnh Cẩm Lan (2014) nhận định tiếng lóng là hiện tượng phản ánh rõ nét sự biến đổi của ngôn ngữ mạng, giúp làm phong phú phương tiện biểu đạt ở các phạm vi có yếu tố bản sắc nhóm cao, đồng thời chỉ ra thái độ đa chiều của cộng đồng đối với hiện tượng này.

Không gian truyền thông số này cũng chính là bệ phóng cho ngôn ngữ của giới trẻ; các khảo sát định lượng cho thấy từ phức và cụm từ lóng đang chiếm ưu thế vượt trội, phản ánh xu hướng "lạ hóa", khẳng định bản sắc thế hệ và gia tăng tính biểu cảm trong tư duy của người trẻ hiện nay (Vũ Thị Hương, 2012; Trương Thị Mỹ Hậu & Nguyễn Thị Ngọc Trinh, 2020). Song song với dòng chảy xã hội trong nước, xu hướng nghiên cứu đối chiếu và ứng dụng liên văn hóa cũng ngày càng nhận được sự quan tâm để đáp ứng nhu cầu giao tiếp quốc tế. Đáng chú ý là nghiên cứu đối chiếu cấu trúc của Nguyễn Thị Hoài Tâm (2022) qua bài viết “Đặc điểm của từ ngữ lóng trên tư liệu của tiếng Hán và tiếng Việt”, tập trung so sánh các con đường hình thành từ lóng giữa hai ngôn ngữ. Ở bình diện văn hóa - xã hội, Doãn Thị Lan Anh (2023) với công trình “Đối chiếu từ ngữ lóng trong tiếng Anh và tiếng Việt” đã làm nổi bật đặc trưng của hai cộng đồng người bản ngữ.

Xu hướng này gần đây tiếp tục mở rộng sang việc làm rõ mối liên hệ giữa văn 11 hóa đại chúng Hàn Quốc (K-Pop, idol) và văn hóa số Việt Nam (TikTok, Facebook) tác động đến cơ chế chơi chữ (Từ Thị Thúy An, 2025). Đặc biệt, vai trò dụng học của tiếng lóng còn được khẳng định mạnh mẽ khi được tích hợp vào giảng dạy ngoại ngữ, giúp người học nâng cao năng lực giao tiếp tự nhiên và tránh các "cú sốc văn hóa" (Trần Anh Thư, 2024; Từ Thị Thúy An, 2025). Bên cạnh các hướng tiếp cận trên, nghiên cứu từ ngữ lóng trong tác phẩm văn học là một hướng đi mang tính truyền thống nhưng chưa bao giờ giảm đi tính thời sự, xem đây như một phương tiện nghệ thuật đắc lực thay vì chỉ là một hiện tượng lệch chuẩn. Ngay từ năm 2002, Nguyễn Thiện Giáp đã đặt nền móng khi chỉ ra cách tiếp cận tiếng lóng như một phương tiện tu từ học dùng để miêu tả tính cách và hoàn cảnh sống của nhân vật.

Hướng đi này đã được cụ thể hóa sinh động qua các khảo sát thực tế trên văn bản văn học hiện thực thời kỳ đầu thế kỷ XX - tiêu biểu là nghiên cứu của Võ Xuân Hào & Nguyễn Văn Trang (2015) về hệ thống phóng sự của Vũ Trọng Phụng. Công trình này chứng minh tiếng lóng không phải chất liệu thô ráp mà là một công cụ nghệ thuật giúp bóc trần bản chất các hiện tượng, tệ nạn xã hội và cá tính hóa nhân vật một cách sâu sắc, khẳng định giá trị biểu cảm và sức mạnh hiện thực hóa mà nó mang lại cho tác phẩm. Nghiên cứu về chuyển dịch các đơn vị ngôn ngữ đặc thù trong văn học Việt Nam Các nghiên cứu về dịch thuật văn học tại Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào việc xử lý các hiện tượng ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình chuyển dịch giữa các ngôn ngữ. Trong đó, hướng nghiên cứu chuyển dịch tác phẩm văn học từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hiện vẫn được quan tâm nhiều hơn.

Các công trình thuộc hướng này thường tập trung vào phương thức xử lý các đơn vị ngôn ngữ đặc thù trong văn bản nguồn khi chuyển sang tiếng 12 Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phạm Thị Diệu Anh (2026), Khảo sát phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng từ tiếng Việt sang tiếng Anh (trên ngữ liệu các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945), Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Phạm, T. D. A. (2026). Khảo sát phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng từ tiếng Việt sang tiếng Anh (trên ngữ liệu các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945) [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/phuong-thuc-chuyen-dich-tu-ngu-long-trong-van-hoc-1930-1945/9768554833
IEEE
T. D. A. Phạm, "Khảo sát phương thức chuyển dịch từ ngữ lóng từ tiếng Việt sang tiếng Anh (trên ngữ liệu các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945)," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2026. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/phuong-thuc-chuyen-dich-tu-ngu-long-trong-van-hoc-1930-1945/9768554833

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác