CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE HỆ THONG DE PHÒNG CHONG LŨ, NGHIÊN CỨU RỦI RO LŨ LUT VA AN TOÀN DE DIEU 1. Tổng quan vé công tác để điều phòng chống lũ tai Việt Nam Suốt chiễu di lịch sử dụng nước và giữ nước, các thể hệ người Việt Nam đã sớm có những giải pháp hữu hiệu phòng, chống những diễn biến bắt lợi của tự nhiên. Truyền thuyết về Sơn Tinh ~ Thủy Tinh là hình ảnh sống động về kỳ tích của nhân dân ta dip dé phòng lạt. Cách đây 2200 năm, huyện (Kinh đô) Phong Khê thời An Duong Vương (257 năm trước công nguyê 4 có để ngăn lũ (Giao Châu Ký, do Hậu Hán thư dẫn) [Nam Mậu Ti (1088) vua Lý Nhân Tông cho ip để Cơ Xá để bảo vệ kinh thành Thăng Long, đến Năm 1099 dip đẻ trên toàn tuyén sông Hồng, Thời nhà Nguyễn (1802— 1882) {4}, tong 27 năm đầu (1803 ~ 1829) đã dip được 145 km để công (trong tổng số để dip được ở toàn Bắc Bộ lúc bay giời là 954 km) và 400 km để tư.
Những năm tiếp theo mở xông thêm nhiều tuyến dé khắp khu vực đồng bằng sông Hồng, sing Thai Binh [5]. Đề được phân làm 2 loại: BE công là để sông lớn, đ tr là để sông nhỏ” Đối với để công hoàn toàn do. Nhà nước dai thọ nguyên vật liệu và bỏ tid thuê dan làm hoặc huy động binh linh làm. Đối với dé tự, Nhà nước quy định quy cách và quản lý về chủ trương cho dân.
dip hay không. nhưng vật liệu hoặc nhân công hoàn toàn do dân tự dai thọ |6] “Thời Pháp thuộc (1883 ~ 1945) Trong thời này ít nhất đã có 8 lẫn vỡ đề sông Hồng: 1893, 1904, 1911, 1913, 1915, 1924, 1926, 1945 và 3 lan vỡ đê sông Thái Bình: 1893, 1926, 1945. Từ năm 1883 hing năm việc công cổ dé theo từng vụ lồ, tiễn hành đấp mở rộng mặt sắt ngang, năng cao trình, khối lượng đắp đê trong thi kỹ này dat $7 triệu mì, bình quân 1. Đến năm 1945 đê sông Hồng chồng được mức lũ Huu;= 12m tại Hà Nội vã để sông Thai Bình chẳng được mức lũ Haux=5 5m tì Phả Lại [6 ‘Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nha nước Việt Nam dan chủ cộng hỏa non trẻ mới ra dồi, cùng với những quyết sich lớn về xây đựng dit nước, chẳng thủ trong, giác ngoài Mặc dù bận trăm công nghị việc nhưng Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc bi én công tác dé điều.
Ney 22 thing 5 năm 1946 Hồ Chủ Tịch đãký và ban hành Sắc lệnh số 10~ SL lập ở Bắc Bộ một Ủy ban Trung ương hộ đề. Trong 46 quy định rõ trách nhiệm, chức dé ra luật lệ và biện pháp đẻ phòng lũ, lụt. Trong khoảng thời gian từ sau. năm 1945 đến thập niên 90 của thé kỹ XX công tác cũng cố, t bổ đểđiễn được Ding, Nhà nước quan tâm đặc biệt, việc đắp dé đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ với 260 triệu khối đất dip để, bình quân 5 triệu mÈ/năm.
Cùng với việc cùng cổ, tu bổ, công tác “quản lý, sử dụng để điều cũng được quan tâm đặc biệt bằng việc xây dựng, ban hành thể chế, đáo tạo nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy chuyên môn từ Trung ương đến cơ sở phục ‘vy nhiệm vụ quản lý sử đụng hàng chục nghìn km dé sông, đề biển, đê bao, bờ bao để chống lũ, ngăn mặn trên phạm vi toàn quốc. Trong đó riêng khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Bắc bộ và Khu 4 cũ, hiện có khoảng 5.000 km bao jm để sông, dé cửa sông và dé biển, trong đó chiều dai các tuyển đê sông từ cấp III đến cấp đặc biệt khoảng 2. Hầu hết các tuyển đề sông được hình thank từ rắt xa xưa, mang tỉnh tự phát và ở thời kỳ Khoa học kỹ thuật thuỷ lợi chưa phát triển, cho nên nhiễu đoạn để hiện nay chúng ta có thể thấy không hợp lý nhưđể đi qua các vùng có dia hình phức tạp và Khoảng cách giữa bai tuyến dé qui rộng hoặc là quá hẹp. Trải qua các trận lũ lớn, đề đã nhiều lần được tôn cao và mớ rộng hơn.
Do để được cái tạo qua nỉ ều giải đoạn và bằng nhiễu loại đắt khác nhau với trình độ và chất lượng thi công khác nhau nên chất lượng giữa các đoạn để trong một tuyến không đồng đều. Việc đắp dé trước đây hoàn toàn bằng thủ công, sử dụng vật liệu tại chỗ được khai thắc ở ngay sắt chân để tạo ra địa hình thùng trăng gây bắt lợi cho sự ôn định của đê, “Trong giai đoạn hiện nay, chương trình nâng cép dé sông và để biển thực hiện theo QD 2068/BNN đã và đang triển khai tai một số tuyển để trọng yếu. Việc nâng cắp bao gồm giữ nguyên phần thân dé cũ, áp trúc, tôn cao và mở rộng hầu hết được thi công cơ giới với chất lượng cơ bản dam bảo theo thiết kế và cơ bản đáp ứng được mức đảm bảo an toàn yêu cầu. Tuy nhiên, theo ắc quy đình hiện hành thì việc phân cấp và nâng ấp các hệ thống để chưa xem xét được các yếu tổ có thể thay đổi trong diệu kiện hiện tai và trong tương li như ảnh hướng eda BĐKII, nước biển dâng cũng như ác te động trực tiếp va gián tiếp của quá trinh phát tién kinh t xã hội [7Ì 1.2, Công tác phòng chống lũ và các hệ thống đê điển hình trên thể giới Không chi tại Việt Nam, lũ lụt luôn là mỗi de dọa nghiêm trọng với nhiều quốc gia trên thể giới.
Để điề là giải pháp chủ yếu và quan trọng nhất với các quốc gia cổ các dòng sông lớn chảy qua và các vùng đất tring dọc theo dai ven biển. Các trận lũ lụt lịch sử tại một số quốc gia đã gây ra ổn thất nặng nề vỀ người và và tải sản có thể kế đến như ti Hà Lan năm 1953 thiệt hại 18 ti USD kèm theo rên 11.000 người; Banglades 2003 trên 2 10,000 người; Mỹ vỡ đê năm 2005 gây thiệt mang gần 10.000 người và thiệt hại kinh tế lên đến trên 50 ti USD [8], Sau mỗi sự kiện lũ lụt lịch sử, các quốc gia trên thé giới lại nâng cao ý thức bảo vệ an toàn phòng chống là hơn bằng các chính sich đầu tr mới, các chương trinh nâng cắp an toàn các hệ thống đê va công trình phòng chồng lũ. Ha Lan là một đắt nước cổ trên 65% diện tích nằm dưới mực nước bin trung bình và mực nước lũ trong sông. Do đó công tác đểdiễu là việc sống còn và việc xây dựng phát triển các tuyến dé sông, dé biển đã có một quá trình lịch sử lâu di Hà Lan đã trở thành một biểu tượng của thể giới rong công tác phòng chẳng lũ.
Sau khi xây dựng tuyển để ngăn biển Bắc, Afsluitdijk, người Hà Lan bắt đầu nghiên cứu xây dựng các hệ thống đề, đập ving đồng bằng ha du sông Rhine. Quy hoạch đã được phát triển để rất ngắn các đường bờ biển và biến đồng bằng thành một nhóm các hỗ nước ngọt. Tuy nhiên, do Thế chiến thứ bai, ít các động thái được thực từ sau khi hoàn thành để AiRluidjik [9]. Cho đến thảm họa lũ Biển Bắc năm 1953, một loạt tuyển đề biển phía Nam bi ve gy ngập lụt nghiêm trọng trên diện rộng, thiệt hại nặng né về người và tai sản.
Ding bing đã được thành lập để lập ra chiến lược quy hoạch phòng chống lĩ biển cho vùng đồng bằng, thực hiện các nghiên cửu về nguyên nhân và đưa ra các giải pháp dé ngăn chặn những thảm họa như vậy trong tương lai. Một phần quan trọng của Dự án. đẳng bằng này là thục hiện các nghiên cứu cơ bản cần thit để giúp giải quyết tiệt để lụt. Thay vì sử dụng phương pháp phân tích lũ lụt lịch sử và xây đựng các tuyến để đủ để đối phó với các trận lũ lich sử, Ủy ban Đồn bằng đã đi tiên phong trong việc xây dựng khung khái niệm vé tiêu chuẩn an toản liên quan đến vốn đầu tw và rủi ro cca vùng được bảo vệ.
Theo đó các vùng tring ven sông, sát biển được bảo vệ bởi các vòng đê khép kin, Khu vực quan trọng nhất được bảo vệ các “vòng đê” với tần suất thiết 1/10,000 năm; các khu vục khác được bảo vệ vớ tin suất thiết kế trong khoảng từ 1/4000 năm đến 1/1. Công trình chấn lũ biển dạng đóng mở được tiêu biểu nhất thuộc dự án Đồng bằng là đập-cổng ngăn triều Eastem-Scheldt Tiếp theo đó, việc nâng cắp tuyển đường thủy quan trong (cửa vào của cảng Rotterdam) Nieuwe 'Waterweg và việc tăng cường phỏng lũ cho khu vực cảng đã đòi hỏi phải xây dựng đập. chắn lũ biển nỗi tiếng thứ 2, Maeslantkering. Tei các quốc gia châu Âu khác như Đức, Pháp, Anh, vấn dé nâng cấp các hệ thông.
sông được đặc bigt chú trọng sau sự kiện lũ lụt sử xảy ra những năm 90s và 2000 trên các hệ thống sông Rhine, Meuse và Theme, Chương trinh nghiên cứu chung v8 an toàn phòng chống lũ và rủi ro ngập lụt FLOODsite đã được triển khai và có phạm vi ảnh hưởng bao trầm toàn bộ hầu hết các nước châu Âu. Kết qua chính của chương trình này là các quốc gia đồng loại thông nhất mức đảm bảo an toàn hi suất thiết kế từ 1/100 năm lên 1/1. Tại Mỹ sau sự kiện vỡ để tai New Orleans do bão Katrina, thing 9/2005 các tuyễn đề biển và đề cửa sông đã được năng cấp lên với tin suất thiết kể 1. Tại Trung Quoc, các tuyển đê sông quốc gia đọc theo các hệ thông sông chính như Trường Giang và Hoàng Hà (phần hạ du) đang từng bước được nâng cắp đến mức đảm bảo phòng lũ là 1/250 đến 1/500 năm [12], Nhìn chung, với các quốc gia có các dòng sông lớn chiy qua và có vững đắt ting dọc theo dai ven biển thì vấn đỀ giảm thiểu ủi ro lũ lạt luôn được chú trọng hàng đầu và việc đầu tư xây dựng, nâng cắp các hệ thông đê hiện vẫn đang là giải pháp chủ yếu.
- Tổng quan về hệ thống đề vùng Đồng bằng sông Hồng 13. Hệ thống đê vàng Đằng bằng song Hing và khu vực nghiên cứu [13] Hệ hông để vũng đồng bằng sông Hồng (Bắc bộ) bao gồm nhiều tuyển để sông (huộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Trong đỏ các tuyển đê dọc theo sông Đà, để sông Thao, sông Lô, sông Phó Day, sông Hồng, sông Dudng, sông Luộc, sông Trà Lý, xông Bio, sông Ninh Cơ vã sông Đây a các tuyên đề thuộc hệ thing sông Hồng (sông ‘Bay đến địa phận Ninh Binh có dé sông Hoàng Long).