Tổng quan nghiên cứu

Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và được luật hóa tại Điều 28.2 Luật Giáo dục năm 2005. Chương trình giáo dục phổ thông theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT đặt ra yêu cầu chuyển dịch từ phương thức truyền thụ một chiều sang phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy môn Ngữ văn lớp 12 tại các trường Trung học phổ thông (THPT), việc tiếp cận mảng văn xuôi sau năm 1975 vẫn còn nhiều hạn chế, khoảng 65% giáo viên vẫn duy trì lối đọc chép truyền thống, dẫn đến hơn 70% học sinh tiếp nhận tác phẩm một cách thụ động, thiếu kỹ năng phản biện.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn (mã số 60 14 10) do tác giả Nguyễn Thị Thanh thực hiện tại Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010 đã giải quyết trực tiếp bài toán này. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và đề xuất quy trình phát huy phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy 2 tác phẩm tiêu biểu của chương trình Ngữ văn 12: truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (thời lượng 2 tiết) và trích đoạn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng (thời lượng 1 tiết đọc thêm). Nghiên cứu mang ý nghĩa sư phạm sâu sắc khi cung cấp hệ thống 5 kỹ thuật tổ chức nhóm hiện đại, giúp nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của người học, tối ưu hóa 45 phút trên lớp và cải thiện rõ rệt chất lượng tiếp nhận văn học hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên 2 trụ cột lý thuyết cơ bản: lý luận dạy học tích cực và thi pháp học văn xuôi thời kỳ Đổi mới.

Về lý luận dạy học, tác giả kế thừa mô hình học tập hợp tác trong nhóm nhỏ của Robert Slavin (năm 1995), quan điểm tự do thảo luận nhóm của Roger Causinet (năm 1949) cùng các nghiên cứu sư phạm của Nguyễn Hữu Châu, Phan Trọng Ngọ và Lê Đức Ngọc. Học tập hợp tác được định nghĩa là phương thức tổ chức dạy học trong các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 thành viên, vận hành dựa trên 5 thành tố cốt lõi: sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực, tương tác trực tiếp, trách nhiệm cá nhân, kỹ năng giao tiếp nhóm và sự tự điều chỉnh của nhóm.

Về phương diện văn học sử và thi pháp học, nghiên cứu đặt các tác phẩm trong bối cảnh văn học Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt sau dấu mốc Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Nền văn học chuyển từ khuynh hướng sử thi mang tính “đơn giọng ngợi ca” sang cảm quan thế sự đời tư với tính chất “đa thanh phức điệu”. Nhà văn không còn độc quyền phán truyền chân lý mà đối thoại bình đẳng cùng bạn đọc. Như nhà văn Nguyễn Minh Châu từng chia sẻ về sự vượt thoát khỏi không gian chật hẹp của văn học cũ, các tác phẩm giai đoạn này khắc họa con người đa diện, phức hợp, đòi hỏi phương pháp tiếp cận mở, đa chiều thông qua hoạt động tương tác nhóm.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, luận văn triển khai quy trình nghiên cứu thực nghiệm kết hợp định tính và định lượng trong năm học 2009 - 2010:

  • Nguồn dữ liệu và chọn mẫu: Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu nghiên cứu gồm 25 giáo viên Ngữ văn và 120 học sinh khối 12 tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mẫu thực nghiệm sư phạm được phân chia đồng đều thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm (60 học sinh) áp dụng quy trình thảo luận nhóm tích cực và nhóm đối chứng (60 học sinh) học theo phương pháp thuyết trình truyền thống. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được lựa chọn nhằm bảo đảm tính tương đồng về năng lực học tập ban đầu và điều kiện cơ sở vật chất.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phân tích văn bản pháp quy, điều tra bảng hỏi (phiếu khảo sát định lượng), phỏng vấn sâu giáo viên, đối chiếu so sánh kết quả kiểm tra định kỳ và phân tích thi pháp tác phẩm. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đánh giá chuẩn xác cả sự biến chuyển về nhận thức, thái độ học tập lẫn mức độ nắm vững chuẩn kiến thức, kỹ năng của học sinh theo thang đo điểm số định lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã mang lại 4 kết quả thực nghiệm nổi bật, chứng minh tính ưu việt của phương pháp thảo luận nhóm:

  • Mức độ tích cực hóa hoạt động học tập: Tại lớp thực nghiệm, tỷ lệ học sinh chủ động phát biểu, tranh luận và chia sẻ quan điểm cá nhân đạt mức 85%, tăng 53% so với lớp đối chứng (chỉ đạt 32%). Tình trạng học sinh thụ động ghi chép giảm từ 68% xuống còn 15%.
  • Khả năng giải mã chiều sâu tác phẩm: Khi khám phá nghịch lý đời sống trong Chiếc thuyền ngoài xa, 78,3% học sinh lớp thực nghiệm phân tích sâu sắc được 3 tầng ý nghĩa đằng sau lời trần tình của người đàn bà hàng chài, cao hơn 24,3% so với lớp đối chứng (54,0%).
  • Chất lượng kiểm tra đánh giá: Kết quả bài kiểm tra đọc hiểu sau thực nghiệm ghi nhận điểm khá - giỏi của nhóm thực nghiệm đạt 81,7% (trong đó điểm giỏi chiếm 28,3%), trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 56,7% loại khá - giỏi (điểm giỏi chỉ đạt 11,7%). Tỷ lệ điểm trung bình và yếu giảm mạnh từ 43,3% xuống còn 18,3%.
  • Phát triển kỹ năng mềm: Khoảng 90% học sinh tham gia thực nghiệm khẳng định bản thân tự tin hơn khi trình bày ý kiến trước đám đông, nâng cao kỹ năng làm việc tập thể và khả năng lắng nghe quan điểm bất đồng.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu thực nghiệm có thể được tổng hợp trực quan qua Bảng so sánh kết quả học tập và Biểu đồ cột biểu diễn mức độ phát triển kỹ năng đọc hiểu văn bản giữa hai nhóm lớp. Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm xuất phát từ tính tương thích hoàn hảo giữa bản chất đa thanh của văn xuôi sau năm 1975 và cơ chế tương tác đa chiều của phương pháp nhóm.

Trước đây, học sinh thường nhìn nhận nhân vật người chồng vũ phu hay người vợ cam chịu trong Chiếc thuyền ngoài xa một cách đơn giản theo nhãn dán tốt - xấu. Thông qua kỹ thuật làm việc nhóm, học sinh được đặt vào các góc nhìn khác nhau (góc nhìn của nghệ sĩ Phùng, của Đẩu, của thằng Phác và của chính người đàn bà), từ đó phát hiện ra tính đa diện của hiện thực. Hiện tượng "đồng phục hóa ý kiến" đã được khắc phục triệt để nhờ việc áp dụng linh hoạt các kỹ thuật dạy học tích cực như kỹ thuật khăn phủ bàn và kỹ thuật mảnh ghép, buộc 100% cá nhân phải suy nghĩ độc lập trước khi tổng hợp thành ý kiến chung của nhóm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa phương pháp thảo luận nhóm trong trường phổ thông:

  • Chuẩn hóa quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi có vấn đề: Giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi mở phân tầng theo 3 cấp độ: tái hiện cốt truyện, phân tích tình huống nghệ thuật và liên hệ chiêm nghiệm triết lý nhân sinh. Thời lượng dành cho mỗi câu hỏi thảo luận cần khống chế chặt chẽ từ 5 đến 7 phút để tránh tình trạng cháy giáo án trong 45 phút dạy học.
  • Ứng dụng linh hoạt 5 kỹ thuật dạy học tích cực: Tùy theo dung lượng bài học, giáo viên triển khai linh hoạt: Kỹ thuật khăn phủ bàn (cho hoạt động phân tích tâm lý nhân vật), Kỹ thuật mảnh ghép 2 vòng (cho các bài 2 tiết như Chiếc thuyền ngoài xa để xử lý nhiều tuyến nhân vật), Kỹ thuật động não (brainstorming để tìm ý tưởng mở bài), Kỹ thuật phòng tranh (trưng bày sơ đồ tư duy về biến động gia đình trong Mùa lá rụng trong vườn) và Kỹ thuật thảo luận vòng tròn.
  • Tối ưu hóa không gian lớp học và quản lý nhóm: Khắc phục hạn chế của phòng học truyền thống bằng cách chia nhóm cố định từ 4 đến 6 học sinh theo vị trí ngồi liền kề, phân công rõ vai trò nhóm trưởng và thư ký, rút ngắn thời gian ổn định vị trí nhóm xuống dưới 60 giây.
  • Xây dựng tiêu chí đánh giá minh bạch (Rubric): Tổ chuyên môn nhà trường cần ban hành bộ công cụ đánh giá kết hợp giữa điểm nhóm (50%) và điểm trách nhiệm cá nhân (50%) thông qua phiếu quan sát, giúp triệt tiêu hiện tượng ỷ lại của học sinh nhút nhát và nâng cao 100% tinh thần trách nhiệm tập thể trong năm học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giáo viên Ngữ văn cấp THPT: Cung cấp 2 giáo án thực nghiệm mẫu được thiết kế chi tiết từng bước cho bài Chiếc thuyền ngoài xaMùa lá rụng trong vườn, giúp giáo viên áp dụng trực tiếp vào giảng dạy trên lớp mà không lo cháy giáo án.
  • Sinh viên sư phạm Ngữ văn: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận giảng dạy văn học theo đặc trưng thể loại tự sự, cung cấp vốn kiến thức thực tế về cách tổ chức 5 kỹ thuật nhóm hiện đại trước khi bước vào kỳ thực tập tốt nghiệp.
  • Tổ trưởng chuyên môn và Cán bộ quản lý giáo dục: Sử dụng làm tài liệu sinh hoạt chuyên đề cấp tổ, cụm trường nhằm cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng.
  • Học viên cao học và Nhà nghiên cứu khoa học giáo dục: Khung tham chiếu giá trị về việc kết hợp giữa lý thuyết thi pháp học văn xuôi sau năm 1975 và khoa học sư phạm tương tác, làm nền tảng mở rộng nghiên cứu sang các thể loại ký, kịch hoặc thơ hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp thảo luận nhóm có dễ làm "cháy giáo án" trong tiết dạy 45 phút không? Hiện tượng cháy giáo án chỉ xảy ra khi giáo viên thiếu kế hoạch kiểm soát thời gian. Luận văn chỉ rõ giáo viên cần giới hạn mỗi chặng thảo luận từ 3 đến 5 phút, giao nhiệm vụ rõ ràng trên phiếu học tập và quy định thời gian báo cáo của mỗi nhóm không quá 2 phút để bảo đảm tiến trình 45 phút của tiết học.

2. Kỹ thuật "khăn phủ bàn" mang lại lợi ích gì vượt trội so với thảo luận truyền thống? Kỹ thuật này buộc 100% thành viên trong nhóm 4 người phải tự viết câu trả lời của riêng mình vào 4 góc khăn trong 2 phút trước khi cả nhóm thống nhất ghi ý kiến chung vào ô trung tâm, triệt tiêu hoàn toàn sự ỷ lại và xóa bỏ hiện tượng một vài cá nhân áp đặt suy nghĩ lên tập thể.

3. Làm thế nào để áp dụng thảo luận nhóm cho tiết đọc thêm "Mùa lá rụng trong vườn" chỉ có thời lượng 1 tiết? Đối với trích đoạn 1 tiết của Ma Văn Kháng, giáo viên nên sử dụng kỹ thuật phòng tranh hoặc kỹ thuật động não nhanh trong 7 phút, tập trung vào 1 vấn đề then chốt: mâu thuẫn giữa giá trị văn hóa gia đình truyền thống và lối sống chạy theo đồng tiền trong nền kinh tế thị trường.

4. Dấu hiệu thi pháp văn xuôi sau năm 1975 nào quyết định việc phải dùng phương pháp thảo luận nhóm? Đó là tính chất đa thanh phức điệu và sự chuyển dịch điểm nhìn trần thuật. Văn xuôi sau năm 1975 không còn góc nhìn sử thi áp đặt một chiều mà soi chiếu hiện thực qua nhiều góc nhìn nhân vật phức tạp, rất cần học sinh thảo luận đa chiều để thấu hiểu bản chất vấn đề.

5. Các trường THPT có bàn ghế cố định dạng truyền thống có thực hiện được phương pháp này không? Hoàn toàn thực hiện được. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh mô hình nhóm 4 người (gồm 2 học sinh bàn trên quay xuống ghép với 2 học sinh bàn dưới) chỉ mất khoảng 30 đến 45 giây để tổ chức, không gây xáo trộn không gian lớp học truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về dạy học tích cực và thi pháp văn xuôi Việt Nam sau năm 1975, khẳng định thảo luận nhóm là công cụ tối ưu để tiếp cận tác phẩm tự sự đa thanh.
  • Đóng góp thực tiễn lớn nhất của đề tài là xây dựng hoàn chỉnh 2 kế hoạch bài dạy thực nghiệm cho Chiếc thuyền ngoài xaMùa lá rụng trong vườn cùng bộ giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao.
  • Kết quả thực nghiệm tại các trường THPT năm 2010 chứng minh phương pháp giúp tăng tỷ lệ học sinh khá - giỏi lên 81,7%, đồng thời phát triển vượt bậc năng lực giao tiếp và tư duy phản biện.
  • Trong giai đoạn tiếp theo, mô hình này cần được nhân rộng cho toàn bộ hệ thống tác phẩm văn xuôi hiện đại lớp 11 và lớp 12 trên phạm vi cả nước.
  • Quý thầy cô giáo và các nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay quy trình thảo luận nhóm 7 bước cùng hệ thống kỹ thuật khăn phủ bàn, mảnh ghép trong luận văn để biến mỗi giờ học Ngữ văn thành một diễn đàn đối thoại văn chương thực sự sôi nổi và hiệu quả.