Đề Tài NCKH: Phương Pháp Học Tiếng Anh Qua Dự Án Để Tăng Cường Hiệu Quả Tự Học

Chuyên khảo phân tích Đề tài nckh phương pháp học tiếng anh học qua dự án projectbased learning để tăng cường hiệu quả tự, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Tiếng Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài khoa học cấp cơ sở

2017

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phương Pháp Học Tiếng Anh Qua Dự Án

Phương pháp học tiếng Anh qua dự án (HQDA) đã trở thành một xu hướng giáo dục hiện đại, giúp sinh viên phát triển kỹ năng tự học và giao tiếp. Phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách chủ động mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hạnh (2017), HQDA đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao khả năng tự học của sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Đại học Thương mại.

1.1. Định Nghĩa Phương Pháp Học Qua Dự Án

HQDA là một phương pháp học tập trong đó sinh viên làm việc theo nhóm để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Họ tự lập kế hoạch, thực hiện và trình bày kết quả. Phương pháp này giúp sinh viên phát triển kỹ năng mềm và khả năng tự học.

1.2. Lợi Ích Của Phương Pháp Học Qua Dự Án

Phương pháp này giúp sinh viên cải thiện khả năng giao tiếp, làm việc nhóm và quản lý thời gian. Nó cũng khuyến khích sinh viên tìm kiếm thông tin và tự học, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

II. Vấn Đề Trong Việc Học Tiếng Anh Của Sinh Viên Đại Học

Sinh viên Việt Nam thường gặp khó khăn trong việc tự học tiếng Anh do phương pháp giảng dạy truyền thống. Nhiều sinh viên vẫn phụ thuộc vào giáo viên và thiếu kỹ năng tự học. Theo nghiên cứu, ý thức tự học của sinh viên còn thấp, dẫn đến kết quả học tập không cao.

2.1. Thách Thức Trong Việc Tự Học Tiếng Anh

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu và tự lập kế hoạch học tập. Điều này dẫn đến việc họ không thể phát huy tối đa khả năng của mình trong việc học tiếng Anh.

2.2. Nguyên Nhân Của Vấn Đề

Nguyên nhân chính bao gồm phương pháp giảng dạy truyền thống, thiếu sự hỗ trợ từ giáo viên và môi trường học tập không thuận lợi. Những yếu tố này cản trở sinh viên trong việc phát triển kỹ năng tự học.

III. Phương Pháp Học Qua Dự Án Giải Pháp Cho Vấn Đề Tự Học

Phương pháp học qua dự án đã được áp dụng để giải quyết vấn đề tự học của sinh viên. Bằng cách tham gia vào các dự án thực tế, sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tiễn và phát triển kỹ năng tự học.

3.1. Cách Thức Thực Hiện Phương Pháp Học Qua Dự Án

Sinh viên được chia thành các nhóm và thực hiện các dự án liên quan đến tiếng Anh. Họ sẽ tự tìm kiếm thông tin, lập kế hoạch và thực hiện dự án dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

3.2. Kết Quả Đạt Được Sau Khi Áp Dụng

Sau khi áp dụng phương pháp này, sinh viên đã cải thiện đáng kể kỹ năng tự học và khả năng giao tiếp tiếng Anh. Nghiên cứu cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức và thái độ của sinh viên đối với việc học tiếng Anh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phương Pháp Học Qua Dự Án

Phương pháp học qua dự án không chỉ được áp dụng trong giảng dạy tiếng Anh mà còn có thể mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Việc áp dụng phương pháp này giúp sinh viên phát triển toàn diện hơn.

4.1. Các Dự Án Tiêu Biểu Trong Giảng Dạy

Một số dự án tiêu biểu có thể bao gồm việc tổ chức các buổi thuyết trình, viết báo cáo hoặc thực hiện các video phỏng vấn. Những dự án này giúp sinh viên thực hành tiếng Anh trong các tình huống thực tế.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phương Pháp Học Qua Dự Án

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên tham gia vào các dự án có kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên học theo phương pháp truyền thống. Họ cũng cảm thấy tự tin hơn khi giao tiếp bằng tiếng Anh.

V. Kết Luận Tương Lai Của Phương Pháp Học Qua Dự Án

Phương pháp học qua dự án hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển và trở thành một phần quan trọng trong giáo dục tiếng Anh tại Việt Nam. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ giúp sinh viên cải thiện kỹ năng ngôn ngữ mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết cho công việc tương lai.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Phương Pháp Học Qua Dự Án

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao về kỹ năng tiếng Anh, phương pháp học qua dự án sẽ ngày càng được ưa chuộng trong giáo dục.

5.2. Đề Xuất Để Nâng Cao Hiệu Quả Phương Pháp

Cần có sự hỗ trợ từ các cơ sở giáo dục để giáo viên có thể áp dụng hiệu quả phương pháp này. Đồng thời, sinh viên cũng cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động học tập thực tiễn.

24/07/2025
Đề tài nckh phương pháp học tiếng anh học qua dự án projectbased learning để tăng cường hiệu quả tự học tiếng anh cho sinh viên đại học thương mại

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC QUA DỰ ÁN 1.1 Định nghĩa về phương pháp học qua dự án HQDA có nguồn gốc từ châu Âu từ kỉ 16 (ở Ý, Pháp), đến kỉ 20, ba nhà sư phạm Mĩ gồm John Dewey (Dewey, 1966) và William H. Kilpatrick (Kilpatrick, 1918) xây dựng cơ sở lí luận cho HQDA nhằm thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên. Lúc ban đầu, HQDA chỉ được áp dụng vào giảng dạy các môn kỹ thuật, sau được mở rộng sang hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội. Hiện nay, HQDA được vận dụng rộng rãi ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới.Frey định nghĩa “HQDA là một hình thức của hoạt động học tập trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được” Theo Thomas, Mergendoller và Michaelson (1999), “HQDA là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án.

Các dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi sinh viên phải thiết kế, giải quyết vấn đề hoặc tiến hành các hoạt động điều tra. Nó cung cấp cho người học cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian mở và kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học” Moursund, D. (1999) phát biểu “HQDA là phương pháp tổ chức cho giáo viên và sinh viên cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về mặt thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính tổng hợp, tạo điều kiện cho sinh viên cùng và tự quyết định trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định”. Thomas et al.

(1999) cho rằng HQDA có những đặc điểm như sau: 5 1. Tập trung vào phương pháp rèn luyện. Giúp người học trải nghiệm với các dự án thực tế, phức tạp, qua đó phát triển kỹ năng và áp dụng kiến thức. Phương pháp này buộc người học phải sàng lọc nhiều nguồn thông tin, nguyên tắc khác nhau để giải quyết vấn đề.

Kết quả khóa học được xác định từ trước nhưng kết quả học tập của người học thì không dễ đoán. Qua các trải nghiệm trong quá trình thực hiện dự án, người học học được cách quản lý và phân bổ các nguồn lực như thời gian và tài liệu. Như vậy có thể thấy mặc dù được diễn giải theo các hình thức khác nhau nhưng tựu trung lại, HQDA là mô hình dạy học lấy sinh viên làm trung tâm dựa trên quan điểm việc học nên được thực hiện bằng cách làm (learning by doing), thay vì bằng cách lắng nghe như trong sư phạm truyền thống.2 Các đặc điểm của HQDA Theo mô tả của Jones, Rasmussen và Moffitt (1997), HQDA là mô hình mà ở đó việc học được thực hiện xoay quanh dự án. Người học được tổ chức thành các nhóm với nhiệm vụ tiến hành các dự án theo phân công của giáo viên – lúc này chỉ đóng vai trò của người hướng dẫn và và giám sát.

Dự án được giao thường là các nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi và vấn đề có tính thách thức; sinh viên sẽ phải lập kế hoạch, bàn bạc, phân tích, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định. Quá trình này diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định cho trước (thường khá dài – tối thiểu vài tuần cho đến cả kỳ học), kết thúc quá trình, nhóm sinh viên sẽ phải tạo ra kết quả có tích thực tiễn. Một điểm nổi bật khác của HQDA là việc sử dụng các tình huống thực, liên quan đến những vấn đề mang tính thực tiễn, câu hỏi dẫn dắt phải có tính thách thức, thông thường đòi hỏi nhóm thực hiện sử dụng các công cụ có tính trực quan và công nghệ thông tin (Krajcik, Blumenfeld, Marx, & Soloway, 1994) 6 Để tóm lược những đặc điểm chính của HQDA và từ đó dễ dàng phân biệt được các dự án nào không thuộc phương pháp này, Synteta (2001) đã tổng hợp lại lý luận của Reginald & Laferrière, 1999; W. Thomas, 2000b và liệt kê như sau:  nội dung chính của HQDA là hoạt động  dài hạn (vài ngày hoặc cả học kỳ)  liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật,  các hoạt động mang tính xây dựng, có tính thách thức,  lấy sinh viên làm trung tâm,  tổ chức theo nhóm,  gắn với thực tiễn,  có kết quả là sản phẩm,  cải thiện các kỹ năng sống như kỹ năng tự quản lý, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề  có sử dụng các công cụ, thường là công nghệ thông tin (Krajcik, Blumenfeld, Marx, & Soloway, 1994; Marx et al.

Đối chiếu với các tiêu chí này thì những trường hợp sau đây không phải là HQDA (Synteta, 2002):  dự án không phải trọng tâm của chương trình mà chỉ là hoạt động bổ sung,  dự án không có mục tiêu khó về mặt trí tuệ,  dự án có thể tiến hành với kiến thức và kỹ năng đã có,  dự án theo kịch bản có sẵn (P. Dillenbourg, 2002),  dự án có mục tiêu thiếu thực tế. Từ các đặc điểm nêu trên của HQDA có thể thấy phương pháp dạy này mang lại nhiều lợi ích cho người học. Về tổng quan, HQDA giúp nâng cao tinh thần tự chủ của người học – điểm yếu cố hữu của sinh viên Việt nam - xuất pháp từ phương pháp dạy học truyền thống lấy người dạy làm trung tâm.

Trong HQDA, người học được ‘trao quyền’ quyết định mọi công việc trong quá trình thực hiện dự án, người 7 dạy chỉ giữ vai trò tư vấn, hướng dẫn và giám sát, qua đó rèn luyện cho người học khả năng làm việc độc lập, tự chủ. Bên cạnh đó, bằng việc tổ chức người học thành nhóm để giao đề tài, HQDA tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua việc trao đổi ý kiến, hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ. Kỹ năng giải quyết vấn đề, quản lý thời gian cũng được nâng cao bởi các nhiệm vụ được giáo viên giao trong HQDA thường có tính thách thức cao và phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định. Yêu cầu sử dụng công cụ thông tin trong quá trình thực hiện và thuyết trình kết quả đạt được cũng là cơ hội tốt để rèn luyện kỹ năng vi tính, thuyết trình, giao tiếp cho người học.

Đây đều là những kỹ năng mềm có vai trò ngày càng quan trọng trong môi trường làm việc hiện đại.3 Các bước tiến hành HQDA Có nhiều mô hình tiến hành HQDA khác nhau, hay nói cách khác, cách làm sẽ khác nhau tùy vào từng dự án, từng giáo viên. Theo Stix, A và Hrbek, F (2006), có 9 bước tiến hành HQDA: Bước 1. Giáo viên chuẩn bị dự án, mô tả dự án cho sinh viên Bước 2. Sinh viên đóng vai trò nhà thiết kế dự án, có thể đưa ra hội thảo.

Sinh viên thảo luận và tổng hợp thông tin. Giáo viên hướng dẫn và sinh viên đưa ra tiêu chí đánh giá dự án. Sinh viên tìm và tổng hợp tài liệu. Sinh viên tiến hành dự án.

Sinh viên chuẩn bị trình bày dự án. Sinh viên trình bày dự án. Sinh viên rút kinh nghiệm quá trình thực hiện dự án và đánh giá dự án theo tiêu chí đã đề ra trong bước 4. Một mô hình khác do Sheppard & Stoller (1995, 1997) đề xuất: Bước 1: Giáo viên và sinh viên thống nhất nội dung dự án Bước 2: Xác định kết quả cuối cùng.

8 Bước 3: Xây dựng khung dự án. Bước 4: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên thu thập thông tin Bước 5: Thu thập thông tin. Bước 6: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên soạn thảo và phân tích dữ liệu Bước 7: Soạn thảo và phân tích dữ liệu Bước 8: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên về ngôn ngữ dùng để trình bày dự án Bước 9: Trình bày sản phẩm cuối cuòng. Bước 10: Đánh giá dự án.

Theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương (Dạy học dự án – từ lí luận đến thực tiễn), các bước để HQDA gồm có: Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm - Tìm trong chương trình học tập các nội dung cơ bản có liên quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế. - Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống. Chú ý vào những vấn đề lớn mà xã hội và thế giới đang quan tâm. - Giáo viên phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất, xác định tên đề tài.

Đó là một dự án chứa đựng một nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với các em, trong đó có sự liên hệ nội dung học tập với hoàn cảnh thực tiễn đời sống xã hội. Giáo viên cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để người học lựa chọn. Bước 2: Xây dựng đề cương dự án - Giáo viên hướng dẫn người học xác định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành, kế hoạch thực hiện dự án; xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí… - Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách dựa vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của bài học/chương trình, những kĩ năng tư duy bậc cao cần đạt được. - Việc xây dựng đề cương cho một dự án là công việc hết sức quan trọng vì nó mang tính định hướng hành động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả và đánh giá dự án.

9 Bước 3: Thực hiện dự án - Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên. - Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra. Khi thực hiện dự án, các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau; kết quả là tạo ra sản phẩm của dự án. - Học viên thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc.

Như vậy, các kiến thức mà người học tích lũy được thử nghiệm qua thực tiễn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ