PHƯƠNG PHÁP HỌC ĐẠI HỌC & KỸ NĂNG LẬP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỜI SINH VIÊN MỤC LỤC PHẦN 1. SỰ KHÁC NHAU GIỮ MÔI TRƯỜNG THPT VÀ ĐẠI HỌC. XÁC ĐỊNH NGHỀ NGHIỆP SẼ LÀM TRƯỚC KHI BẮT ĐẦU MỌI THỨ Ở BẬC ĐẠI HỌC. BA MẢNG NỘI DUNG HỌC TẬP THỜI ĐẠI HỌC.
LÀM SAO HỌC & TỰ HỌC ĐỂ BỨT PHÁ VỀ NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN?. LÀM SAO ĐỂ GIỎI KỸ NĂNG MỀM?. RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT - THÁI ĐỘ. LẬP BA KẾ HOẠCH QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CUỘC ĐỜI SINH VIÊN.
PHƯƠNG PHÁP HỌC ĐẠI HỌC & KỸ NĂNG LẬP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỜI SINH VIÊN “Đại học là tự học. Nơi đâu con người biết tự học, nơi đó mới thật sự là đại học.” Hình ảnh suy ngẫm: Cây lục bình sống trong môi trường có sẵn nước và chất dinh dưỡng xung quanh, nên nó chỉ cần có một bộ rễ chùm ngắn là có thể hút đủ dưỡng chất để mà tồn tại. Học sinh cũng vậy, sống trong môi trường mà kiến thức đã có sẵn xung quanh, có trong sách giáo khoa, có trong bài giảng của thầy cô, có trong bài các tập về nhà, nên chỉ cần có kỹ năng học bài và làm bài đầy đủ là có thể đạt yêu cầu. Cây xương rồng thì khác, sống trong môi trường khắc nghiệt, nước và dưỡng chất thì nằm rải rác hoặc dưới sâu lòng đất, nên nó phải tiêu biến lá đi vì không còn cần thiết, thân phải biết tích trữ, và bộ rễ phải đủ dài - tỏa đủ rộng - cắm đủ sâu mới có thể tìm đủ nước và dưỡng chất để sống khỏe và thậm chí nở hoa.
Lục bình nếu chuyển môi trường sống sang sa mạc, nó sẽ chết khô nếu không biết tiêu biến đi những cái cũ không còn phù hợp và mọc ra thêm kiểu rễ mới để thích nghi. Một khi thay đổi môi trường sống, một cái cây còn biết thích nghi. Học sinh chuyển từ môi trường phổ thông sang môi trường đại học, cũng phải biết thích nghi với môi trường học tập mới. Khi bước vào môi trường đại học, “đại” nghĩa là rộng lớn, kiến thức không chỉ nằm trong sách vở, trong bài giảng, trên giảng đường mà còn nằm trong thư việc, đặc biệt là những kiến thức kinh nghiệm quý giá nhất là trong thực tiễn.
Do đó, nếu học sinh không biết tiêu biến đi cách học cũ đã không còn phù hợp, không mọc ra bộ rễ mới dài hơn - tỏa rộng hơn - cắm sâu hơn để hút đủ kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, thì sinh viên ấy sẽ trở thành một sinh viên “suy dinh dưỡng về chuyên môn nghề 1 nghiệp”, đi làm khó khăn, hoặc gia nhập vào lực lượng 200.000 cử nhân và thạc sĩ đang thất nghiệp trong xã hội. Vậy, đại học khác gì so với phổ thông? Sinh viên phải có cách học thế nào để trở thành một sinh viên được việc, lành nghề và xuất sắc? PHẦN 1. SỰ KHÁC NHAU GIỮ MÔI TRƯỜNG THPT VÀ ĐẠI HỌC: Sau đây là một số sự khác biệt chủ yếu mà sinh viên cần biết để thay đổi tâm thế học tập của mình: Trong đó, sinh viên cần nhớ, khi học đại học: 1. Về mục đích đi học: - Ở THPT, học là để biết, để phát triển trí tuệ.
Còn ở đại học, học là để đi làm. Trong khi đó, “làm” thì khó gấp trăm lần so với “biết”. Chẳng hạn như, “biết” thấu kính phân kì là một việc rất dễ dàng. Nhưng để “làm” ra một thấu kính phân kì thì khó hơn nhiều, có thể bạn không thể làm được vì thiếu vật liệu, hoặc có vật liệu phù hợp thì lại thiếu dụng cụ chế tạo, hoặc có dụng cụ thì trong quá trình chế tác lại có thể làm sai, làm hỏng.
Học sinh học là để biết, sinh viên học là để đi làm. Nếu biết sai, bạn có thể học lại là xong; còn nếu gây hậu quả, thì tự bạn phải chịu (bị trừ 2 điểm, bị thi trượt. Tuy nhiên, là người đi làm, nếu làm sai, hậu quả sẽ ảnh hưởng đến cả tập thể, có khi làm hỏng dây chuyền sản xuất, làm hư sản phẩm, gây cháy nổ, hoặc làm mất khách hàng, hoặc làm tổn hại thương hiệu của doanh nghiệp. Hậu quả của việc “làm sai” lớn hơn nhiều.
=> Do đó, học đại học phải nghiêm túc hơn gấp trăm lần. Do đó, học đại học phải gắn liền với thực tế, phải thường xuyên tìm cách thực hành, làm bài tập, ứng dụng vào thực tế, đi thực tập, đi làm thêm một số việc liên quan đến vị trí tương lai (thậm chí là làm không công) để có cơ hội áp dụng những lý thuyết đã học vào thực tế. Về nơi hàm chứa nội dung cần học: Ở bậc phổ thông, kiến thức chủ yếu nằm trên lớp (chủ yếu trong sách giáo khoa, trong bài giảng của thầy cô, trong các bài tập thầy cô giao). Ở bậc đại học, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp không chỉ nằm trên lớp, mà nằm ở 3 nguồn khác nhau: Nếu vẫn giữ cách học cũ thời phổ thông, chỉ dựa vào việc lên lớp rồi trông chờ vào bài giảng và giáo trình, thì chắc chắn sinh viên sẽ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng nghề nghiệp.
=> Do đó, khi bước lên đại học, sinh viên phải chuyển từ "bộ rễ chùm" khá nông của thời THPT sang 3 chiếc "rễ cọc" cắm sâu vào 3 đối tượng để hút kinh nghiệm làm việc cho mình: Lớp học – Thư viện – Thực tế. Ba nguồn trên là tương đương nhau: - Nguồn 1: “Lớp học”, bao gồm giảng viên và giáo trình. Giảng viên sẽ đúc kết những kinh nghiệm tinh hoa để bạn rút ngắn quá trình mày mò học tập, giúp bạn giải đáp những thắc mắc mà chưa ai giải đáp. Để khai thác nguồn này, bạn phải đi học đầy đủ, nghe giảng đầy đủ, đọc 3 giáo trình đầy đủ.
Đặc biệt, phải thường xuyên giơ tay đặt câu hỏi để khai thác kinh nghiệm của giảng viên, “hút” kinh nghiệm và trí tuệ của họ thông qua các câu hỏi khai thác thông tin do bạn đặt. Ngoài ra, giáo trình là xương sống của môn học, bạn phải “đọc kỹ, đọc sâu, đọc nát” những gì giáo trình hướng dẫn. - Nguồn 2: “Thư viện”. Thư viện thường gồm: sách chuyên khảo và sách tham khảo.
Trong đó, sách chuyên khảo thường do các chuyên gia đầu ngành viết. Sách sẽ mở rộng trí tuệ của bạn thông qua trí tuệ của người viết, đây là cách để bạn “đứng trên vai những người khổng lồ”. Do đó, ngoài thời gian học trên lớp, thời gian trên thư viện hoặc thời gian đọc sách phải chiếm ít nhất 1/3 trên tiến trình học tập của bạn. Tuy nhiên, hai nguồn trên cũng có những khiếm khuyết.
Không phải giảng viên nào cũng “chất”; nhiều giảng viên còn giảng lý thuyết nhiều, thậm chí có những giảng viên chỉ dạy theo kiến thức có trong giáo trình mà chưa có kinh nghiệm hoạt động thực sự trong doanh nghiệp, xí nghiệp. Còn sách cũng có “độ trễ” nhất định so với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, của thời đại, của thị trường; ngoài ra, rất nhiều sách được viết bởi người làm “nghề viết”, chứ không phải là đúc kết từ thực tiễn, do đó bạn cần biết chọn lựa sách để tiếp nạp và học hỏi làm theo. - Vậy, “Thực tế” mới là trường Đại học thực thụ, là nơi mà bạn sẽ làm việc trong tương lai, đó mới là nơi có những kinh nghiệm sát với thực tế nghề nghiệp nhất. Vì vậy, “Thực tế” là một nguồn học tập mà bạn phải có, không thể thiếu thời đại học.
Thông thường, nhà trường sẽ có phòng thí nghiệm mô phỏng thực tế, nhưng phòng thí nghiệm khó mà so bằng với công nghệ thực thụ trong chính nhà máy sản xuất (trừ một số trường chất lượng cao và chịu khó đầu tư về công nghệ cho sinh viên học tập). Ngoài ra, đa số nhà trường sẽ cho bạn đi kiến tập (tham quan) vào khoảng năm 3 và và thực tập (làm thử) vào năm 4. Mỗi kì thực tập thường chỉ chiếm một khoảng thời gian tương đối ngắn (tùy ngành, tùy trường). Do đó, ngoài các kênh mà nhà trường hỗ trợ bạn tiếp cận thực tế, bạn phải có những cách riêng để thiết lập “chiếc rễ” cắm vào thực tiễn để hút kinh nghiệm vào đầu từ kênh này.
Chẳng hạn như: xin làm trợ lý cho một người đang hành nghề, hoặc tham gia các cuộc thi kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp, hoặc tham gia các câu lạc bộ thực hành, hoặc cộng tác đi làm thêm ở doanh nghiệp trong ngành, bằng cách tìm người giỏi nghề nhận lời coach/ hướng dẫn/ đào tạo cho mình, hoặc bằng các cách khác do bạn thiết lập được, tùy khả năng của bạn. Về phương pháp học: Học ở phổ thông, phương pháp chính là nghe giảng, sau đó học bài và làm bài. Học đại học thì khác, phương pháp chính chính là tự học. Ở bậc học mới này, giảng viên chỉ là phụ, tự học với lộ trình mình lập ra là chính.
Do đó, lộ trình này cần lập một cách kỹ càng, khôn ngoan, có chiến lược, được thầy cô hướng dẫn, được những người hành nghề thực tế góp ý, phản biện. Theo đúng quan điểm giáo dục hiện đại, giảng viên chỉ nên giữ vai trò chính là định hướng, giúp sinh viên biết lộ trình học tập từng môn học mà họ phụ trách, sau đó giao nhiệm vụ hoạt động cho sinh viên để sinh viên tự làm (như: tự nghiên cứu tài liệu, tự tìm thông tin liên quan đến môn học, thuyết trình theo chủ đề, làm bài tập thực hành. Tuy nhiên, không phải giảng viên nào cũng đổi mới vai trò, để chuyển giao vị thế trung tâm về sinh viên, rèn cho sinh viên tính tích cực - chủ động - tinh thần tự học. Do đó, một số giảng viên vẫn giữ phong cách giảng bài như thời phổ thông.
Dù vậy, sinh viên vẫn phải nhớ rằng, lộ trình học tập là do mình phải tự xây dựng là chính, nhiệm vụ học tập là do tự mình thực hiện, bản thân phải chủ động đào tạo chính mình, không quá dựa dẫm vào giảng viên và bài giảng trên lớp. Còn phương pháp học cụ thể, phần này sẽ được hướng dẫn chi tiết ở phần sau. Về kiểm tra đánh giá: - Ngày xưa, giáo viên phổ thông có bài kiểm tra đầu giờ, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ… Hàng ngày hầu như đều kiểm tra nhắc nhở học sinh. Tuy nhiên, ở bậc đại học, hàng ngày giảng viên không có điều kiện kiểm tra từng người học, cũng không thường xuyên nhắc nhở như thời bạn còn là học sinh.