Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Lựa chọn, phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo phương pháp chung giải các bài toán hoá học trung học phổ thông. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học THPT 1. Quá trình dạy học Quá trình dạy học là toàn bộ các hoạt động chung của cả thầy và trò, trong đó dưới vai trò chủ đạo ( tổ chức, điều khiển, thiết kế, chỉ đạo) của thầy mà học sinh tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo lĩnh hội kiến thức nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học. Chất lượng dạy học Chất lượng dạy học được hiểu là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học xét cả về mặt định lượng và định tính so với các mục tiêu của môn học. Tiêu chuẩn của một quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả (theo quan điểm của công nghệ dạy học) là phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học trong nhà trường: - Giúp cho học sinh nắm vững các tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệ thống, sát với thực tiễn Việt Nam và các kỹ xảo tương ứng về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học tư duy, về nghệ thuật và kĩ thuật, và những kỹ xảo tham gia lao động sản xuất, các hoạt động xã hội.
- Phát triển các năng lực và phẩm chất hoạt động trí tuệ, thể chất của học sinh. Trong quá trình dạy học, việc hình thành các tri thức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển trí tuệ phải dẫn đến hình thành ở học sinh lý tưởng đạo đức, tác phong của người công dân, động cơ, thái độ học tập đúng đắn và các phẩm chất đạo đức khác. Dạy học có hiệu quả là hoạt động dạy học đáp ứng được một cách đúng đắn và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội với sự chi phí tối ưu về thời gian, sức lực và tiền của của GV, HS, nhân dân và nhà nước. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học.
Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung chương trình đào tạo, hệ thống sách giáo khoa, điều kiện cơ sở vật 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất phục vụ quá trình dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Trong phạm vi bản luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của BTHH trong giảng dạy môn hóa học, trong đó tập trung vào việc lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài toán hóa học để góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn hóa học. Bài tập hóa học. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học Việc dạy học không thể thiếu bài tập.
Sử dụng bài tập trong dạy học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt. + Làm chính xác hóa khái niệm hóa học, củng cố đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. + Ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất.
+ Rèn luyện các kỹ năng hóa học như: cân bằng PTHH, tính toán theo PTHH… - Giáo dục. Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động. Phát triển ở học sinh ở năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo.
Trong quá trình dạy học, người GV cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này các năng lực tư duy được phát triển, HS sẽ có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở: năng lực phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng mới, tạo ra kết quả học tập mới. Lựa chọn và phân loại bài tập hóa học 1. Lựa chọn bài tập hóa học Hiện nay số lượng câu hỏi và bài toán hóa học trong sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo rất phong phú và đa dạng. Để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn hóa học cần phải lựa chọn những bài toán hóa học đảm bảo các yêu cầu: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bám sát và phục vụ tốt mục tiêu dạy học.
- Nội dung phải phong phú, ngắn gọn. - Được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học, đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn. - Kết hợp sử dụng bài toán tự luận và trắc nghiệm khách quan. - Sử dụng bài toán hóa học theo các mức độ từ dễ đến khó.
Bên cạnh những bài cơ bản cần có bài toán nâng cao, tổng hợp để phát huy tính độc lập, sáng tạo trong nhận thức, tư duy của HS. - Bên cạnh những bài tập có hướng dẫn giải cần phải có các bài tự luyện, giúp HS tự học, phát huy tính chủ động, sáng tạo. Phân loại bài tập hóa học Sau khi đã lựa chọn được các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa quan trọng. Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học tùy thuộc vào cơ sở phân loại.
Có thể dựa vào các cơ sở sau: - Khối lượng kiến thức: bài tập dạng cơ bản, bài tập tổng hợp. - Tính chất bài tập: bài tập định tính và bài tập định lượng. - Hình thái hoạt động của học sinh: bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm. - Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài: bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất; tính thành phần phần trăm của hỗn hợp; nhận biết, tách các chất ra khỏi hỗn hợp, điều chế.
- Dựa vào nội dung: bài tập nồng độ, điện phân, áp suất. - Dựa vào chức năng: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ; bài tập đánh giá các khả năng (vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết.); bài tập rèn luyện tư duy khoa học (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch.) - Cách tiến hành giải: bài tâ ̣p trắc nghiệm, bài tập tự luận. Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy của HS. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh theo B.
Bloom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp. - Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được. - Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra. - Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
- Tổng hợp là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới. - Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh theo quan điểm của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang Theo cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, việc đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS thông qua quá trình dạy học môn hóa học gồm có bốn trình độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo: - Trình độ tìm hiểu: Nhận biết, xác định, phân biệt và nhận ra kiến thức cần tìm hiểu. - Trình độ tái hiện: Tái hiện thông báo về đối tượng theo trí nhớ hay ý nghĩa ( kiến thức tái hiện) - Trình độ kỹ năng: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách chuyển tải chúng vào những đối tượng và tình huống quen thuộc ( kiến thức kỹ năng).
- Trình độ biến hóa: Vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách truyền tải chúng vào những đối tượng và tình huống quen biết nhưng đã bị biến đổi hoặc chưa quen biết. Đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS Việt Nam hiện nay. Theo Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2009 -2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo dạy học bám sát theo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các cấp độ: Nhận biết, Thông hiểu và Vận dụng (mức cơ bản) và Vận dụng sáng tạo (mức nâng cao). - Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp.
Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức. HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng. - Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng).