Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi lũy kế đến tháng 6/2008 đã có 3.786 doanh nghiệp hoàn tất chuyển đổi sở hữu, trong đó giai đoạn 2001 đến giữa năm 2008 đóng góp tới 3.011 doanh nghiệp. Tuy nhiên, công tác định giá doanh nghiệp – khâu then chốt mang tính quyết định sự thành bại của tiến trình này – đã bộc lộ hàng loạt lỗ hổng nghiêm trọng, gây thất thoát khối lượng tài sản công ước tính hàng nghìn tỷ đồng. Điển hình như vụ định giá Khách sạn Tràng Tiền tại vị trí trung tâm Hà Nội chỉ đạt mức 4 tỷ đồng, hay Khách sạn Phú Gia chỉ được định giá 3,5 tỷ đồng, hoàn toàn bỏ qua giá trị thương hiệu và lợi thế thương quyền địa lý.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Trang Thanh tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Dương Thị Bình Minh, tập trung giải quyết bài toán: Hoàn thiện các phương pháp định giá DNNN nhằm phản ánh chính xác giá trị thực tế của doanh nghiệp trên thị trường. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là phân tích thực trạng áp dụng phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Thông tư 146/2007/TT-BTC, từ đó xây dựng hệ thống công thức định lượng tài sản vô hình, thương hiệu, uy tín và dòng tiền thuần. Nghiên cứu có phạm vi khảo sát dữ liệu tại Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2008, mở rộng định hướng đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở học thuật và công cụ lượng hóa giúp các cơ quan quản lý, tổ chức thẩm định giá hạn chế tối đa nguy cơ định giá thấp hơn từ 20% đến 40% giá trị thực tế của vốn nhà nước trước khi bán đấu giá cổ phần công khai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của các lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại và chuẩn mực định giá quốc tế:

  • Lý thuyết chiết khấu dòng tiền (DCF - Discounted Cash Flow): Xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị hiện tại của toàn bộ dòng tiền thuần tự do mà doanh nghiệp kỳ vọng tạo ra trong tương lai, được chiết khấu theo chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC). Theo thống kê từ PricewaterhouseCoopers, có khoảng 90% nhà đầu tư quốc tế sử dụng phương pháp DCF và 65% áp dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) để lượng hóa tỷ suất sinh lời đòi hỏi trên vốn chủ sở hữu.
  • Lý thuyết giá trị tài sản thuần (NAV - Net Asset Value): Xác định giá trị doanh nghiệp bằng tổng giá trị thị trường của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình trừ đi tổng nghĩa vụ nợ phải trả.
  • Lý thuyết định giá tài sản vô hình và siêu lợi nhuận (Super-profit Model): Căn cứ Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 (VAS 04) và Hướng dẫn số 4 năm 2000 của Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá Quốc tế (IVSC), tài sản vô hình biểu hiện qua các đặc quyền kinh tế, quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, vị trí địa lý và uy tín có khả năng tạo ra mức sinh lời vượt trội so với mức bình quân ngành.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Giá trị kiểm kê (giá trị tài sản thuần được đánh giá lại tại thời điểm cố định), Giá trị tài chính (định giá theo góc nhìn nhà đầu tư dựa trên bội số thị trường như P/E, EBIT), và Giá trị kinh tế (chuẩn đoán toàn diện cấu trúc nội tại và triển vọng tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và phân tích định lượng thực nghiệm:

  • Quy mô mẫu và nguồn dữ liệu: Mẫu nghiên cứu tổng quát bao gồm toàn bộ 3.786 DNNN đã thực hiện cổ phần hóa qua ba giai đoạn lịch sử: 1991–1995 (5 doanh nghiệp thí điểm), 1996–2000 (770 doanh nghiệp), và 2001–06/2008 (3.011 doanh nghiệp). Mẫu khảo sát chuyên sâu về hiện trạng máy móc thiết bị gồm 727 thiết bị và 3 dây chuyền nhập khẩu tại 42 cơ sở sản xuất kinh doanh theo báo cáo của Viện Khoa học Bảo hộ Lao động. Dữ liệu thực nghiệm so sánh định giá tài sản được trích xuất từ hồ sơ cổ phần hóa thực tế của Công ty Cổ phần LEGAMEX và mẫu quan sát bội số P/E của 10 doanh nghiệp đầu ngành sản xuất phần mềm.
  • Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) được áp dụng để lựa chọn các doanh nghiệp đại diện cho từng phân khúc quy mô vốn, ngành nghề sản xuất kinh doanh và thời điểm chuyển giao các khung chính sách pháp lý (từ Quyết định 202/CT, Nghị định 28/CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Nghị định 187/2004/NĐ-CP đến Nghị định 109/2007/NĐ-CP).
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp so sánh đối chiếu số liệu sổ sách kế toán với giá thị trường và phân tích độ nhạy của các biến số dòng tiền, tỷ lệ chiết khấu giúp bóc tách chính xác những sai lệch kỹ thuật trong các công thức tính toán hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực nghiệm của luận văn đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản về thực trạng định giá DNNN tại Việt Nam:

  • Sai lệch nghiêm trọng trong định giá tài sản cố định hữu hình và nhà xưởng: Khảo sát 727 máy móc thiết bị tại 42 cơ sở cho thấy có đến 76% thiết bị đã hết thời gian trích khấu hao và gần 50% thiết bị phải tân trang lại nhưng vẫn được định giá theo cảm tính. Tại Công ty LEGAMEX, giá trị còn lại của hạng mục nhà cửa và vật kiến trúc xác định lại theo đơn giá Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạt 25,158 tỷ đồng, trong khi giá trị ghi nhận trên sổ sách kế toán là 32,303 tỷ đồng, tạo ra khoản chênh lệch sụt giảm tới 7,145 tỷ đồng (tương đương giảm 22,12% giá trị tài sản).
  • Công thức tính lợi thế kinh doanh theo Thông tư 146/2007/TT-BTC triệt tiêu giá trị của doanh nghiệp thua lỗ: Quy định lấy tỷ suất lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm trừ đi lãi suất trái phiếu Chính phủ 5 năm rồi nhân với vốn nhà nước dẫn đến hệ quả: các DNNN thua lỗ tạm thời hoặc có tỷ suất sinh lời thấp hơn lãi suất trái phiếu sẽ có giá trị lợi thế kinh doanh bằng 0. Điều này hoàn toàn phi lý vì doanh nghiệp vẫn sở hữu hệ thống phân phối, tệp khách hàng trung thành và uy tín thương mại lâu năm.
  • Cơ cấu vốn sau cổ phần hóa chưa tạo ra đột phá về chất: Tính bình quân toàn hệ thống, tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hóa vẫn duy trì ở mức cao 46,5%, cán bộ công nhân viên nắm giữ 38,1%, trong khi các nhà đầu tư chiến lược bên ngoài chỉ nắm 15,4%. Có tới 30% trong tổng số doanh nghiệp đã cổ phần hóa vẫn bị nhà nước chi phối tuyệt đối, làm giảm động lực đổi mới quản trị.
  • Phương pháp định giá theo bội số P/E dễ bị bóp méo bởi các giá trị ngoại lai: Dữ liệu phân tích nhóm 10 công ty phần mềm cho thấy chỉ số P/E bình quân toàn ngành là 24,0 lần. Tuy nhiên, khi loại bỏ 2 công ty có P/E cao nhất (Oracle đạt 37,8 và Broderbund đạt 32,8), P/E bình quân ngành lập tức giảm 11,79% xuống còn 21,17 lần. Việc lựa chọn mẫu so sánh thiếu chuẩn hóa tạo kẽ hở cho các tổ chức định giá điều khiển kết quả theo ý chí chủ quan.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên bắt nguồn từ sự thiếu vắng của hệ thống thẩm định giá chuyên nghiệp độc lập. Tại thị trường lớn như TP. Hồ Chí Minh thời điểm nghiên cứu chỉ có khoảng 20 đơn vị thẩm định giá (với 4 đơn vị quốc doanh), năng lực chuyên môn chưa đồng đều và từng xảy ra sai phạm nghiêm trọng. Việc quy định áp khung giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hàng năm vốn luôn thấp hơn từ 30% đến 70% giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tự do đã làm bốc hơi giá trị vị trí địa lý đắc địa của các khu đất vàng do DNNN quản lý.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa trực quan thông qua: Bảng so sánh biến động chỉ số P/E khi loại bỏ ngoại lai; Bảng kiểm kê phân loại mức độ hao mòn thiết bị với tỷ lệ 76% hết khấu hao; Biểu đồ cột biểu diễn mức chênh lệch 7,145 tỷ đồng giữa giá trị thẩm định lại và sổ sách của LEGAMEX; cùng đồ thị phân bổ cơ cấu vốn sau cổ phần hóa (Nhà nước 46,5% - Nội bộ 38,1% - Bên ngoài 15,4%). Việc lượng hóa tường minh các chỉ số này khẳng định tính cấp thiết phải thay thế cách tính cơ học hiện tại bằng các mô hình tài chính động.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác định giá DNNN đến năm 2020, luận văn đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  • Hoàn thiện phương pháp tài sản và công thức xác định giá trị vô hình: Bãi bỏ công thức tính lợi thế kinh doanh dựa trên lãi suất trái phiếu tại Thông tư 146/2007/TT-BTC. Thay thế bằng mô hình chiết khấu dòng siêu lợi nhuận đa kỳ và mô hình chi phí tái tạo thương hiệu trong 10 năm. Tách biệt hoàn toàn giá trị vị trí địa lý bằng cách thuê thẩm định giá độc lập xác định sát giá giao dịch thị trường theo Nghị định 123/2007/NĐ-CP, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ sai số định giá bất động sản xuống dưới 5%.
  • Chuẩn hóa công thức dòng tiền thuần và tỷ lệ chiết khấu trong mô hình DCF: Bắt buộc áp dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) có bổ sung phần bù rủi ro quy mô doanh nghiệp nhỏ và rủi ro thanh khoản thị trường tại Việt Nam từ 3% đến 5%. Chu kỳ dự phóng dòng tiền phải kéo dài từ 5 đến 7 năm, có tính toán dòng tiền tự do của doanh nghiệp (FCFF) thay vì chỉ dựa vào lợi nhuận kế toán đơn thuần.
  • Nâng cao năng lực và trách nhiệm pháp lý của mạng lưới thẩm định giá: Bộ Tài chính cần thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng đối với 100% tổ chức thẩm định giá được cấp phép. Quy định bắt buộc mọi báo cáo tài chính phục vụ cổ phần hóa phải được kiểm toán độc lập bởi các hãng kiểm toán uy tín trước khi tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp.
  • Đẩy mạnh vai trò quản trị vốn chuyên nghiệp của SCIC: Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC) cần đẩy nhanh lộ trình thoái vốn tại 1.505 doanh nghiệp thuộc diện không cần nắm giữ chi phối giai đoạn 2008–2010. Áp dụng 100% hình thức bán đấu giá công khai qua các Sở Giao dịch Chứng khoán để thị trường tự xác lập mức giá cân bằng tối ưu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các mô hình tính toán trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cùng các cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực chứng để sửa đổi, hoàn thiện các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về định giá doanh nghiệp, đất đai và tài sản công nghệ cao.
  • Các tổ chức thẩm định giá, công ty kiểm toán và công ty chứng khoán: Cung cấp bộ công cụ định lượng chi tiết để định giá thương hiệu, uy tín doanh nghiệp và xác định tỷ suất chiết khấu WACC chuẩn xác trong điều kiện thị trường mới nổi.
  • Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc các DNNN trong lộ trình cổ phần hóa: Giúp chủ động rà soát, đánh giá lại toàn bộ danh mục tài sản hữu hình, đất đai và tài sản sở hữu trí tuệ, tránh thất thoát vốn nhà nước và bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu toàn diện về giai đoạn tái cấu trúc kinh tế 1991–2008 tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao phương pháp tài sản theo Thông tư 146/2007/TT-BTC lại dễ làm thất thoát vốn nhà nước khi cổ phần hóa?
Phương pháp này dựa quá nhiều vào giá trị sổ sách kế toán chưa kiểm toán và khung giá đất nhà nước ban hành, vốn thấp hơn từ 30% đến 70% so với thị trường. Đồng thời, việc áp đặt tỷ lệ giá trị còn lại tối thiểu 20% cho máy móc và 30% cho nhà xưởng chỉ mang tính đối phó hành chính, chưa lượng hóa được giá trị kinh tế thực.

2. Làm thế nào để định giá chính xác tài sản vô hình của một DNNN đang kinh doanh thua lỗ?
Không thể dùng công thức so sánh lợi nhuận với lãi suất trái phiếu vì sẽ cho ra giá trị bằng 0. Cần áp dụng phương pháp chi phí tái tạo (tập hợp chi phí quảng bá, xây dựng thương hiệu, nghiên cứu phát triển trong 10 năm) kết hợp phương pháp định lượng giá trị tài sản vô hình gián tiếp thông qua khảo sát thị phần và lòng trung thành của khách hàng.

3. Mô hình chiết khấu dòng tiền (DCF) gặp những rào cản nào khi áp dụng tại Việt Nam giai đoạn 2008?
Rào cản lớn nhất là dữ liệu tài chính quá khứ thiếu độ tin cậy và việc dự báo dòng tiền 5 năm tới gặp rủi ro vĩ mô cao. Hơn 65% nhà đầu tư dùng CAPM để tìm lãi suất chiết khấu, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam khi đó biến động mạnh, gây khó khăn lớn trong việc xác định hệ số Beta chuẩn xác cho từng ngành.

4. Tại sao việc loại bỏ các doanh nghiệp cá biệt trong phương pháp P/E lại làm thay đổi lớn giá trị định giá?
Phương pháp P/E rất nhạy cảm với dữ liệu mẫu so sánh. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ cần loại bỏ 2 doanh nghiệp có P/E cao nhất là Oracle (37,8) và Broderbund (32,8), P/E bình quân ngành phần mềm đã giảm từ 24,0 xuống 21,17 (giảm 11,79%), trực tiếp làm giảm giá trị định giá của doanh nghiệp mục tiêu hàng chục tỷ đồng.

5. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC) giữ vai trò then chốt gì trong định giá DNNN?
Được thành lập năm 2005, SCIC đại diện quyền sở hữu vốn nhà nước độc lập, giúp tách bạch chức năng quản lý hành chính của các Bộ, ngành với hoạt động kinh doanh vốn. SCIC vận hành theo cơ chế thị trường, trực tiếp thuê các tổ chức định giá chuyên nghiệp quốc tế và bán vốn qua đấu giá công khai, hạn chế tối đa tình trạng thao túng giá ngầm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về định giá DNNN và chỉ rõ những bất cập của hệ thống văn bản pháp lý từ năm 1992 đến năm 2008.
  • Chứng minh thực nghiệm việc bỏ sót giá trị tài sản vô hình, thương hiệu và chênh lệch giá đất đã làm sai lệch giá trị doanh nghiệp tại nhiều điển hình như LEGAMEX, Khách sạn Tràng Tiền.
  • Đóng góp học thuật trọng tâm là xây dựng hoàn thiện bộ công thức tính toán dòng tiền thuần, tỷ suất chiết khấu WACC trong mô hình DCF và công thức lượng hóa siêu lợi nhuận cho tài sản vô hình.
  • Đề xuất lộ trình tái cấu trúc đến năm 2020 với việc phân loại xử lý 554 doanh nghiệp nhà nước duy trì 100% vốn và đẩy mạnh cơ chế đấu giá minh bạch qua SCIC.
  • Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn công, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp cần lập tức áp dụng đồng bộ các giải pháp định giá tiên tiến, đảm bảo tính đúng, tính đủ mọi nguồn lực quốc gia trước khi chuyển đổi sở hữu.