phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm kết hợp với bản đồ tƣ duy và sơ đồ mạng Grap cho các bài luyện tập và ôn tập (Hoá lớp 10 nâng cao) Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quá trình dạy học [6], [7], [25] Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục–lí luận dạy học. Giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang đã xác định: Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dƣới sự điều khiển sƣ phạm của GV, đó là mục đích của hoạt động học. Nhƣ vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt đƣợc 3 mục đích dạy học: trí dục, phát triển tƣ duy, giáo dục.
Về cấu trúc hoạt động học có 2 chức năng thống nhất với nhau là sự tiếp thu thông tin dạy của GV và quá trình lĩnh hội, tự điều khiển mình trong quá trình học tập của HS. Để thực hiện mục đích chiếm lĩnh khoa học một cách tự giác tích cực thì ngƣời học cần có phƣơng pháp lĩnh hội khoa học và chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Các phƣơng pháp đó là: mô tả, giải thích và vận dụng khái niệm khoa học. Chức năng lĩnh hội của hoạt động học có liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hƣởng trực tiếp của hoạt động dạy của ngƣời GV.
Hoạt động dạy là sự điều khiển tối ƣu quá trình HS chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong quá trình tổ chức và điều khiển đó mà hình thành và phát triển năng lực nhận thức và tƣ duy của HS. Để đạt đƣợc mục đích này, hoạt động dạy có hai chức năng liên hệ chặt chẽ, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin học và điều khiển hoạt động học. Chức năng điều khiển hoạt động học đƣợc thực hiện thông qua sự truyền đạt thông tin. Hoạt động dạy và học là hoạt động cộng đồng – hợp tác giữa các chủ thể trong quá trình dạy học - yếu tố duy trì và phát triển chất lƣợng dạy học.
Nhƣ vậy, quá trình dạy học tối ƣu phải xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học và lôgíc lĩnh hội của HS, thiết kế công nghệ dạy học hợp lí, tổ chức tối ƣu hoạt 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động dạy học cộng đồng – hợp tác, bảo đảm liên hệ nghịch để cuối cùng làm cho HS tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, phát triển năng lực tƣ duy sáng tạo và cùng với nét đặc thù của môn học sẽ giúp cho việc nâng cao chất lƣợng dạy và học các môn học trong nhà trƣờng phổ thông.Tìm hiểu về bài luyện tập, ôn tập trong chương trình. Bài luyện tập , ôn tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và đƣợc thực hiện sau một số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc một chƣơng , một phần của chƣơng trình. Đây là dạng bài học không thể thiếu đƣợc trong chƣơng trình của môn học. Bài luyện tập , ôn tập có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành phƣơng pháp nhận thức và phát triển tƣ duy cho học sinh vì : 1) Bài luyện tập giúp cho học sinh tái hiện lại các kiến thức đã học , hệ thống hoá các kiến thức hoá học đƣợc nghiên cứu rời rạc, tản mạn qua một số bài, một chƣơng hoặc một phần thành một hệ thống kiến thức có quan hệ chặt chẽ với nhau theo logic xác định.
Từ các hệ thống kiến thức đó giúp học sinh tìm ra đƣợc những kiến thức cơ bản nhất và các mối liên hệ bản chất giữ các kiến thức đã thu nhận đƣợc để ghi nhớ và vận dụng chúng trong việc giải quyết các vấn đề học tập. Trong bài luyện tập, ôn tập học sinh tham gia các hoạt động học tập nhằm hệ thống hoá và vận dụng kiến thức không chỉ ở trong một chƣơng, một số bài học trƣớc đó mà còn cả các kiến thức đã học ở những chƣơng trƣớc, lớp trƣớc và các môn học khác. Thông qua các hoạt động học tập của học sinh trong bài luyện tập, ôn tập mà giáo viên có điều kiện củng cố, làm chính xác và chỉnh lý, phát triển và mở rộng kiến thức cho học sinh. Trong giờ học luyện tập, giáo viên tổ chức và điều khiển các hoạt động học tập của học sinh nhằm hệ thống hoá các kiến thức cần nắm vững thì có thể phát hiện đƣợc những kiến thức mà học sinh hiểu chƣa đúng hoặc có những khái quát chƣa đúng bản chất của hiện tƣợng, sự việc.
Giáo viên có nhiệm vụ chỉnh lý, bổ sung thêm kiến thức để học sinh hiểu đúng đắn và đầy đủ hơn, đồng thời có thể mở 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rộng thêm kiến thức cho học sinh tuỳ thuộc vào các điều kiện thời gian, trình độ nhận thức của học sinh, phƣơng tiện. Ví dụ: Khi tiến hành bài luyện tập chƣơng phản ứng hoá học giáo viên tổ chức các hoạt động học tập của học sinh nhằm hệ thống các kiến thức cần nắm vững về phản ứng oxi hoá - khử và phân loại phản ứng hoá học. Giáo viên cần làm chính xác các khái niệm cơ bản có liên quan đến phản ứng oxi hoá - khử nhƣ khái niệm số oxi hoá về bản chất của khái niệm, sự tiện ích của việc sử dụng khái niệm này trong việc nhận diện và cân bằng phản ứng oxi hoá - khử, phân biệt khái niệm hoá trị và số oxi hoá. Giáo viên có thể mở rộng kiến thức về các loại phản ứng oxi hoá - khử thông qua các ví dụ yêu cầu học sinh cân bằng phản ứng oxi hoá - khử.
Thông qua các hoạt động học tập trong giờ luyện tập, ôn tập để hình thành và rèn luyện các kỹ năng hoá học cơ bản nhƣ: kỹ năng giải thích – vận dụng kiến thức, giải các dạng bài tập hoá học, sử dụng ngôn ngữ hoá học. Cấu trúc các bài luyện tập trong sách giáo khoa hoá học đều có hai phần: kiến thức cần nắm vững và bài tập. Phần kiến thức cần nắm vững bao gồm các kiến thức cần hệ thống, củng cố và xác định mối liên hệ tƣơng quan giữa chúng, phần bài tập bao gồm các dạng bài tập hoá học vận dụng các kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kỹ năng hoá học. Việc giải các dạng bài tập hoá học là phƣơng pháp học tập tốt nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề học tập của bài toán đặt ra.
Thông qua hoạt động học tập trong giờ luyện tập, tổng kết, hệ thống kiến thức mà phát triển tƣ duy và phƣơng pháp nhận thức, phƣơng pháp học tập cho học sinh. Trong bài luyện tập tổng kết kiến thức học sinh cần sử dụng các thao tác tƣ duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá để hệ thống hoá, nắm vững kiến thức và vận dụng chúng giải quyết các vấn đề học tập mang tính khái quát cao. Khi giải quyết một vấn đề học tập giáo viên thƣờng hƣớng dẫn học sinh phân tích, phát hiện vấn đề cần giải quyết, xác định kiến thức có liên quan cần vận dụng, lựa chọn phƣơng pháp giải, lập kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải, biện luận xác định kết quả đúng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các dạng bài tập nhận thức đòi hỏi sự giải thích, biện luận sẽ có hiệu quả cao trong việc phát triển tƣ duy hoá học và phƣơng pháp nhận thức cho học sinh.
Vì sao trong phòng thí nghiệm phổ thông thƣờng gặp dung dịch axit HCl mà không gặp axit HBr, HI. Nhƣ vậy thông qua việc hƣớng dẫn học sinh giải quyết các bài tập nhận thức cụ thể mà giúp học sinh có đƣợc phƣơng pháp nhận thức, phƣơng pháp phát hiện vàgiải quyết vấn đề và các phƣơng pháp học tập độc lập, sáng tạo. Thông qua bài luyện tập, ôn tập mà thiết lập mối quan hệ của các kiến thức liên môn học bao gồm các kiến thức hoá học có trong các môn khoa học khác (toán học, vật lý, sinh vật, địa lý.) và sự vận dụng kiến thức của các môn học này để giải quyết các vấn đề học tập trong hoá học. Cụ thể nhƣ sự vận dụng các kiến thức về pin điện, điện phân, phƣơng trình trạng thái chất khí, quá trình biến đổi các hợp chất tự nhiên (gluxit, protit, chất béo) trong cơ thể ngƣời, thực vật để nghiên cứu các quá trình hoá học, hình thành các khái niệm và giải quyết các hiện tƣợng tự nhiên, các kiến thức thực tiễn có liên quan đến hoá học hoặc giải các bài tập hoá học.
Nhƣ vậy bài luyện tập, ôn tập là dạng bài học không thể thiếu đƣợc trong các môn học với các giá trị nhận thức và ý nghĩa to lớn của nó trong việc hình thành phƣơng pháp nhận thức, phát triển tƣ duy độc lập, sáng tạo và hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh. Chính vì lẽ đó một trong những định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay là tăng cƣờng học tập cá thể với học tập hợp tác , mà một trong những phƣơng pháp dạy học hiệu quả đáp ứng đƣợc điều này đó là phƣơng pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ kết hợp với sơ đồ mạng Grap và bản đồ tƣ duy. Dƣới đây chúng tôi sẽ đề cập đến những cơ sở lí luận về phƣơng pháp dạy học này. Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học 1.
Khái niệm nhóm [7] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm là tập hợp những con ngƣời có hành vi tƣơng tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu (chung và riêng) và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Phân loại nhóm [12], [13] Có hai loại nhóm cơ bản: - Nhóm cố định: gồm những HS cùng nhau làm việc trong khoảng thời gian từ 1 đến vài tuần lễ để giải quyết một bài tập lớn phức tạp. Ví dụ 1: Trƣớc khi sang bài 60: Axit cacboxylic: Cấu trúc, danh pháp và tính chất vật lý thuộc chƣơng 9 lớp 11 nâng cao, GV yêu cầu các nhóm HS (từ 5-7 em) về nhà sƣu tầm các tên gọi thƣờng của các axit cacboxylic. Mục đích: giúp HS biết thêm một số tên thƣờng của các axit cacboxylic.