Luận văn thạc sĩ về khai thác tối ưu mỏ khí condensate x lô 12

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu kỹ thuật dầu khí lựa chọn phương án khai thác tối ưu cho mỏ khí condensate x lô 12, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Bách Khoa

Chuyên ngành

Kỹ thuật dầu khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

113
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mỏ khí condensate X lô 12

Mỏ khí condensate X lô 12 nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 320 km về phía Đông Nam. Mỏ này đã trải qua nhiều giai đoạn thăm dò và hiện đang trong quá trình phát triển để đưa vào khai thác thương mại. Việc lựa chọn phương án khai thác tối ưu cho mỏ này là rất quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và giảm thiểu rủi ro trong quá trình khai thác. Theo tài liệu, mỏ X đã được thăm dò từ năm 1994 và đã cho thấy tiềm năng lớn với lưu lượng khí đáng kể từ các giếng khoan. Việc xây dựng mô hình khai thác tích hợp sẽ giúp tối ưu hóa quy trình khai thác và quản lý mỏ một cách hiệu quả.

II. Cơ sở lý thuyết của mô hình khai thác tích hợp

Mô hình khai thác tích hợp là một công cụ quan trọng trong việc phân tích và dự báo sản lượng khai thác từ mỏ khí. Mô hình này dựa trên lý thuyết dòng chảy từ vỉa vào đáy giếng (IPR) và dòng chảy từ đáy giếng lên bề mặt (VLP). Việc áp dụng các mô hình này giúp xác định mối quan hệ giữa áp suất và lưu lượng, từ đó đưa ra các kịch bản khai thác phù hợp. Các tham số đầu vào cho mô hình được phân tích và đánh giá kỹ lưỡng nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao. Điều này không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu suất khai thác mà còn hỗ trợ trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.

III. Phân tích dữ liệu và xây dựng mô hình khai thác

Quá trình phân tích dữ liệu từ các giếng khoan là bước quan trọng trong việc xây dựng mô hình khai thác. Các dữ liệu thử vỉa, tài liệu PVT và các thông số địa chất được thu thập và xử lý để xác định trạng thái của vỉa chứa. Việc lựa chọn mô hình dòng chảy phù hợp từ vỉa vào giếng là cần thiết để đảm bảo tính chính xác trong dự báo sản lượng. Các mô hình này không chỉ giúp đánh giá trữ lượng mà còn hỗ trợ trong việc tính toán hiệu quả kinh tế cho các phương án khai thác khác nhau. Kết quả từ mô hình sẽ cung cấp thông tin quý giá cho việc ra quyết định trong quản lý mỏ.

IV. Đánh giá hiệu quả kinh tế và lựa chọn phương án khai thác

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các phương án khai thác là một phần không thể thiếu trong nghiên cứu này. Các chỉ số như NPV (Giá trị hiện tại ròng) được tính toán để so sánh giữa các phương án khác nhau. Việc lựa chọn phương án khai thác tối ưu không chỉ dựa trên sản lượng dự báo mà còn phải xem xét đến các yếu tố như chi phí đầu tư, chi phí vận hành và rủi ro tiềm ẩn. Kết quả từ phân tích này sẽ giúp đưa ra quyết định chính xác về phương án khai thác, đảm bảo lợi ích kinh tế cao nhất cho dự án.

V. Kết luận và kiến nghị

Luận văn đã trình bày một cách chi tiết về quá trình lựa chọn phương án khai thác tối ưu cho mỏ khí condensate X lô 12. Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng mô hình khai thác tích hợp là cần thiết để tối ưu hóa quy trình khai thác và quản lý tài nguyên. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình và nâng cao hiệu quả khai thác trong tương lai. Việc tiếp tục nghiên cứu và cập nhật dữ liệu sẽ giúp cải thiện độ chính xác của mô hình và đảm bảo tính bền vững trong khai thác tài nguyên thiên nhiên.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN VA ĐẶC DIEM DIA CHAT MO X BON TRUNG NAM CON SON 1. Tổng quan khu vực nghiên cứu Mỏ X nam ở ngoài khơi bờ biển phía Nam Việt Nam, nằm phía Tây Bắc Lô 12/11 thuộc bổn tring Nam Côn Son, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 320 km về hướng Đông Nam bao gom hai cấu tao TN va HA. Địa hình day bién tai khu vuc nghiên cứu tương đối bang phang, độ dốc tương đối nhỏ theo hướng Tây Bac — Đông Nam. Độ sâu mực nước biển đao động từ 65m đến 95 m.

Vị trí mỏ X được trình bày trong hình 1.1 > ° 2 "= L2 aoe Oey> Hình 1.1 Sơ dé vị trí mỏ X [9] Học viên Bùi Khắc Hùng Mã học viên: 1670266 Luận văn thạc sĩ 7 1. Khái quát về lịch sử tìm kiếm thăm dò của mo X Lô 12/11 Lô 12/11 có diện tích 6686 km”. Về mặt lãnh thổ, khu vực này nằm khá xa bờ của các nước Đông Nam Á. Mặc dù vậy, đây là nơi đã khoan giếng khoan thăm dò đầu tiên trên thêm lục địa Việt Nam (trong phạm vi vung biển vào nửa đầu thập niên 70 thé ký trước) [11].

Tại khu vực phía Đông của Lô đã phát hiện hai mỏ dầu có giá trị công nghiệp là mỏ Dừa và mỏ Chim Sáo. Đây là điều kiện đảm bảo thành công cho công tác tìm kiếm thăm dò tại khu vực này. Tuy nhiên mức độ nghiên cứu trong khu vực lô 12/11 không đồng đều, theo từng khu vực diện tích khác nhau. Hiện tại, trong khu vực lô 12/11 có nhiều cau tạo tiềm năng chưa tiến hành khoan tìm kiếm thăm dò.

Tại một số giếng đã khoan, đã nhận được dòng khí không có giá trị thương mai, do đó đòi hỏi cần phải tiễn hành các công tác tìm kiếm thăm dò tiếp theo. Tháng 8/1973, Lô 12 được giao cho công ty Pecten and Cities Service. Năm 1974, đã tiễn hành thu nỗ 142 tuyến địa chan 2D tương ứng 4000 km tuyến phủ đều trên diện tích Lô 12 với mạng lưới đan dày 3x3 km. Năm 1974, trên cơ sở kết quả nghiên cứu dia chan 2D, đã tiễn hành khoan giếng khoan thăm dò đầu tiên Hong — 1X tại thêm lục địa Việt Nam.

Giéng khoan nay duoc khoan vào một trong những đới nâng của móng kết tinh. Do không phát hiện các tang sản phẩm (theo tai liệu DVLGK, toàn bộ các tang chứa đều bão hòa nước) nên giếng khoan đã được hủy mà không tiến hành công tác thử via. Năm 1994, Lô 12E được giao lại cho công ty Canadian Petroleum. Cong ty nay đã tiễn hành thu nỗ địa chan 2D (1123 km tuyến, Canoxy) bao phủ lên diện tích các cầu tạo Hong Hac — Hoang Yến và TN-HA (Mỏ X).

Thang 4 năm 1996, theo kết quả minh giải tài liệu địa chan đã tiễn hành khoan giếng khoan thăm dò 12W-HA-1X trên cấu tạo HA thuộc ranh giới phía Tây — Bac của Lô 12. Việc ưu tiên lựa chọn đầu tiên đối tượng này để tiễn hành khoan giếng khoan thăm dò là do năm 1994 đã có phát hiện mỏ khí Rồng Đôi ở lô lân cận 11 (cách cầu tao HA 30 km về phía Đông — Bắc). Tại giếng khoan này đã tiến hành thử via 02 Học viên Bùi Khắc Hùng Mã học viên: 1670266 Luận văn thạc sĩ 8 MDT (lay được mẫu khí — condensate) và thử via 03 đối tượng trong ống (nhận được dong khí va condensate) (Bang 1. Kết quả thử via giếng khoan 12W-HA-1X[14] Thử Khoảng Ket qua TA = Tỉ trọng via thir.m Đôi tượng Tuoi địa chat Qd, Qe, n mềm Qn, chat lưu (MD) t/ngd| t/ngd 8: đ 2 | mả/ngđ | gícmẺ DST-1 | 3918-4025 | Cat kết Oligocen he tang Không nhận được dòng MDS 6, Miocen dưới, hệ DST-2 | 3572-3594 Cát kết tầng Dừa - 111 680 - MDS 5, Miocen dưới, hệ DST-3 | 3504-3531 Cát kết tầng Dừa - - 31,1 - Chú thích: MD-d6 sâu theo thân giếng khoan, Qa- Lưu lượng dâu, O- Lưu lượng condensate, , Ox-luu lượng khí Việc khoan giếng khoan 12W-HA-1X (đáy giếng 4443m, Oligocen) đã chứng minh sự có mặt của đá có đặc tính thắm chứa tốt tại độ sâu hơn 3,6 km.

Theo đánh giá của công ty Canadian Petroleum, trữ lượng phát hiện của cau tạo này vào khoảng 481 triệu mỶ khí và 80 nghìn tan condensate (P50). Giéng khoan được biết đến với tên gọi I2W-HA-IX. Năm 1996 sau khi khoan giếng khoan 12W-HA-1X, công ty Canadian Petroleum đã tiễn hành thu nỗ 310 km? tài liệu dia chan 3D dau tiên trong phạm vi Lô 12/11. Tháng 9 năm 1997, trên cơ sở kết quả thu nỗ địa chan 3D, công ty trên đã tiễn hành khoan giếng khoan thăm dò trên cấu tao Hồng Hạc.

Giéng khoan 12W-HH-1X cách giếng khoan 12-C-1X 9 km về phía Đông. Đối tượng tiềm năng chính là phan trên của hệ tang Cau và hệ tầng Dừa tương tự như tại giếng khoan 12-C-1X. Công tác khoan giếng bị dừng tại độ sâu đáy giếng 3881m (móng biến chat) do kẹt và hỏng cần khoan. Trong quá trình khoan giếng khoan quan sát thấy biểu hiện dâu khí yếu tại phần trên của hệ tầng Dừa.

Khi tiến hành thử via MDT tại độ sâu 3470 (phan trên của hệ tầng Cau) đã tiễn hành lay mẫu khí va filtrate của dung dịch khoan. Theo kết quả DVLGK, mặc dù có mặt của các via cát hệ tầng Cau và Dừa (phần cát kết chiếm tương ứng 47 và 51% tương ứng) nhưng không xác định được đối tượng tiềm năng dé tiễn hành thử via. Giếng khoan bị hủy và không tiến hành thử via. Theo kết qua Học viên Bùi Khắc Hùng Mã học viên: 1670266 Luận văn thạc sĩ 9 nghiên cứu địa hóa đá mẹ, hệ tang Cau tại giếng khoan 12W-HH-1X, chỉ tiêu mức độ trưởng thành VCHC cho thay, đá mẹ đang trong pha cuối của giai đoạn sinh dầu và bắt đầu bước vào pha sinh khí khô (Ro=1,2%).

Tuy nhiên kết quả phân tích hệ thong đứt gấy kiến tạo tại khu vực phía Nam của giếng khoan cho thay kha năng chắn kém của hệ thống đứt gay kiến tạo đối với việc bảo tồn HC. Giêng khoan này còn có tên gọi khác là 12-Hong Hac — 1X và Flamingo-lX. Từ năm 1997 đến năm 1998, trên khu vực diện tích lô 12, công ty Canadian Petroleum đã tiễn hành thu nỗ 681 km và 1801 km tuyến địa chan 3D tương ứng cho từng năm. Cuối năm 2000, sau HĐPCSP Lô 12 được ký kết giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và tô hợp các nhà thầu Samedan, Delek Energe, Opeco, công ty Samedan đã được chỉ định là Người Điều hành dé tiễn hành các hoạt động tìm kiếm thăm dò tiếp theo.

Công ty nay đã tiến hành khoan 03 giếng khoan tại khu vực lô 12 là: 12W-TN- 1X, 12E-LK-1X u 12W-TN-2X. Tháng 7 năm 2001, đã khoan giếng khoan đầu tiên 12W-TN-1X trên cau tao TN. Cấu tạo này là khối nâng ké áp đứt gãy và nam gan khu vực cau tạo HA (hình 1.2 Sơ đô cấu trúc nóc hệ tang Dừa, cầu tao TN [11] Giéng khoan 12W-TN-1X được khoan trên co sở kết qua xử ly, minh giải tai liệu địa chan 2D năm 1995. Mục đích dau tiên của giếng khoan là đánh giá tiềm năng Học viên Bùi Khắc Hùng Mã học viên: 1670266 Luận văn thạc sĩ 10 khí của các tập cát kết thuộc phan dưới của hệ tang Dừa, đối tượng đã nhận được dòng khí và condensate tại giếng khoan 12W-HA-1X.

Kết quả liên kết giếng khoan 12W-TN-1X và 12W-HA-1X tốt, tuy nhiên các đối tượng chính MDS 6 va MDS 5 theo tài liệu DVLGK lại bão hòa nước. Trong quá trình thử vỉa các tầng thuộc Oligocen, một trong những khoảng thử đã nhận được dòng khí với dầu và nước (bảng 1.Kết quả thứ via giếng khoan 12-TN-1X [12] Thử Khoảng Ket qua “OR = Tỉ trọng via thử,m Đôi tượng Tuôi địa chât Qd,| Qe, ng ° Qn, chat lưu k 3 (MD) t/ngd|_ t/ngd mề/ngđ m/ngd g/cm3 DST-1 | 4037-4075 | Cat két Oligocen he tang Không thu được dòng DST-2 | 3977-4017 | Cat két Oligocen he ans) ant - 572 15.82 DST-3 | 3846-3861 | Cat kết Oligocen he tang Không thu được dòng Chú thích: MD-độ sâu theo thân giếng khoan, Qa- Lưu lượng dâu, O- Lưu lượng condensate, , Ox-luu lượng khí Hàm lượng khí CO> trong thành phan khí khoảng 4%. Giéng khoan được biết đến với tên gọi 12W-TN-IX. Năm 2001, công ty Samedan đã tiền hành thu nỗ 139 km? địa chan 3D bao trùm lên diện tích cau tao TN và HA nham hạn chế các yếu t6 rủi ro trong quá trình khoan tiếp theo cũng như đánh giá chỉ tiết trữ lượng của các vỉa đã phát hiện.

Năm 2002, sau khi tiễn hành minh giải tài liệu địa chan 3D khu vực đứt gãy của lô giữa hai cau tạo HA và TN, Công ty Samedan đã tiễn hành khoan giếng khoan thứ ba 12W-TN-2X. Mục đích của giếng khoan là thâm lượng các via đã được phát hiện bởi giếng khoan 12W-TN-1X. Đã tiến hành thử via 01 đối tượng trong trầm tích Oligocen, tuy nhiên không nhận được dòng chất lưu trong quá trình gọi dòng. Kết quả khoan giếng khoan này cho thấy, khối liền kể ké áp lên cau tạo TN về phía Đông không có các vỉa HC.

Giếng khoan 12/11-TN-3X bat đầu khoan vào ngày 22/08/2016 và đã hoàn thành nhiệm vu của mình là thâm lượng và xác minh trữ lượng khí thương mại trong trầm tích Oli øocen cầu tạo TN. Theo quan điểm địa chất (kết quả minh giải tài liệu Học viên Bùi Khắc Hùng Mã học viên: 1670266 Luận văn thạc sĩ 11 địa chan 3D PSTM năm 2013 và PSDM năm 2015), cau tao TN có tiềm năng mở rộng diện tích triển vọng khí. Từ những nguyên nhân nêu trên đã tiễn hành công tác đánh giá lại trữ lượng cấu tạo này, nhằm mục đích nghiên cứu bồ sung giếng khoan thâm lượng 12/11-TN-3X đã khoan. Giêng 12/11-TN-3X được thiết kế là giếng đa thân với một thân ngang và thân pilot.

Thực tế đã khoan 03 thân pilot (ST1; ST2 và ST3) và thân ngang (HI). Kết quả khoan thân pilot 1 đã phát hiện các đối tượng có tiềm năng dau khí thuộc phan giữa của hệ tang Dừa (tang MDS5 và MDS6). Lưu lượng khí công nghiệp nhận được trong quá trình thử vỉa thân ngang giếng khoan trên đã xác minh trữ lượng tiêm năng của đôi tượng này có đủ khả năng đê đưa vào phat triên. Kết quả thử vỉa tầng UCS-2 trong thân ngang được thể hiện tại bảng 1.

Kết quả thử via tang CS-2 giếng khoan 12/11-TN-3X-HI [10] Lưu lượng trung bình ; ^ Khí Nước STT Via Con (mm) Condensate (ng 3 3 (m”/ng.70 4 CS2 2540 Không đo lưu lượng Bang 1.4 tóm tat két qua khoan tham do, thâm lượng tại mỏ X (cau tạo TN-HA) Bang 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phương án khai thác tối ưu cho mỏ khí condensate x lô 12" trình bày các chiến lược và phương pháp nhằm tối ưu hóa việc khai thác khí condensate tại lô 12. Tác giả phân tích các yếu tố kỹ thuật, kinh tế và môi trường liên quan đến quá trình khai thác, từ đó đưa ra những giải pháp hiệu quả giúp tăng cường sản lượng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngành công nghiệp khí mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên một cách bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn trên địa bàn huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội", nơi phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của các loại rừng trồng.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị", giúp bạn nắm bắt thêm các kỹ thuật trồng rừng và bảo vệ môi trường ven biển.

Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên" sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quan về quản lý rừng sản xuất, một phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường.