Đặt vấn đề Ở Việt Nam, trồng trọt và chăn nuôi là hai thành phần quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn đóng góp một phần lớn vào thu nhập của người dân. Chăn nuôi không những cung cấp một lượng lớn sản phẩm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn cung cấp cho xuất khẩu. Vì thế chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người.
Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu. Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân. Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Châu Á.
Hiện nay nước ta đang có 23 triệu đầu lợn, bình quân tốc độ tăng hàng năm là 3,9%. Đảm bảo cung cấp 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần xuất khẩu. Kế hoạch đến năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt, chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [4]. n 2 Để có được kết quả trên ngoài việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng.
Tuy vậy bên cạnh những tiến bộ đạt được, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh. Dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã gây nhiều thiệt hại, làm hạn chế sự phát triển, giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi. Trong đó hội chứng tiêu chảy với đặc điểm dịch tễ hết sức phức tạp đang gây nên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng suất, chất lượng đàn vật nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Ở Việt Nam tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy rất cao, có địa phương 70% -80%, tỷ lệ chết 18% - 20%.
Lợn không chết cũng còi cọc và chậm phát triển. Hội chứng tiêu chảy xảy ra ở các giống lợn mọi lứa tuổi, gây hiệu quả nghiêm trọng và tổn thất rất lớn. Hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra như vi khuẩn, virus, thức ăn kém phẩm chất, chăn nuôi không đúng quy trình, thời tiết thay đổi đột ngột hay do một số bệnh truyền nhiễm, bệnh nội khoa và bệnh ký sinh trùng. Ở nước ta do nhiều yếu tố tác động như thời tiết, tập quán chăn nuôi, điều kiện dinh dưỡng, môi trường sống, trình độ khoa học kỹ thuật nên hội chứng tiêu chảy rất cao.
Trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con, E. coli và Salmonella là hai nguyên nhân gây bệnh quan trọng và rất phổ biến.Để giảm thiểu thiệt hại do hội chứng tiêu chảy gây ra đối với cơ sở nuôi lợn tập trung, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 22 ngày tuổi tại trại lợn ông Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng, trị”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại lợn ông Đặng Đình Dũng. - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn con theo mẹ tại trại ông Đặng Đình Dũng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở phục vụ cho nghiên cứu và học tập của sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Nâng cao năng suất chăn nuôi và cũng là cơ sở cho việc xây dựng các phác đồ điều trị phù hợp và có hiệu quả đối với hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ, làm giảm tỷ lệ chết, giảm tỷ lệ còi cọc, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Điều kiện cơ sở 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm độc lập trên một quả đồi, nằm các xa khu dân cư, thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đây là một trong những trang trại có quy mô lớn. Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong đó diện tích hơn 1ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh.
Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn Landrace - Yorkshire và Duroc. Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ. Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng. Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 con lợn giống.
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi. Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn. Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau. Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ.
Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài do công ty hỗ trợ cung cấp. n 5 Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 15 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này. Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực. Trang trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn.
Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày. Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt. Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng. Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng.
Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng. Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2.
Đối tượng sản xuất Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace - Yorkshire và Duroc. Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng. Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trang trại có quy mô lớn. Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao.
Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây: n 6 Bảng 2.1: Kết quả sản xuất của cơ sở Số lợn qua các năm Chỉ tiêu Năm Năm Năm 2016 2014 2015 (5 tháng đầu năm) Nái hậu bị (con) 120 130 90 Nái được phối (con) 1.184 Tỷ lệ đậu thai (%) 91,85 92,34 93,25 Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.324 Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.944 Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380 Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.489 Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số heo nái hậu bị từ năm 2014 là 120 nái, tới năm 2015 tăng lên 130 nái, tăng 108%. Tỷ lệ phối đậu thai từ 91,85% (năm 2014) tăng lên 93,25% (năm 2016). Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm 2014 là 21,151 con tới năm 2015 là 22. Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”.
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay. Cơ sở khoa học. Đặc điểm sinh lý của lợn con Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C ra môi trường bên ngoài có n 7 nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh. + Đặc điểm tiêu hóa của lợn con Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là cơ quan tiêu hoá chưa thành thục.