Chương 1. Chủ đề phong tục trong sáng tác trƣớc 1945 của Tô Hoài. Nhƣ̃ng mảng màu hiê ̣n thƣ̣c trong bƣ́c tranh phong tu ̣c mang tên Tô Hoài trƣớc 1945. Bƣ́c tranh phong tu ̣c thời thƣ̣c dân - mô ̣t biể u tả đa tri.̣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 11 NỘI DUNG Chƣơng 1 CHỦ ĐỀ PHONG TỤC TRONG SÁNG TÁC TRƢỚC 1945 CỦA TÔ HOÀI 1.
Giai đoa ̣n trƣớc 1945 trong sƣ ̣ nghiêp̣ văn chƣơng của Tô Hoài 1. Vài nét về Tô Hoài (1920-2014) Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen. Quê nội của ông là huyện Thanh Oai, Hà Tây nhƣng nơi chôn rau ở quê ngoại - làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông cũ (nay là phƣờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Đó cũng chính là mảnh đất gắn bó gần cả cuộc đời.
Từ 1938 chịu ảnh hƣởng của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô Hoài tham gia phong trào Ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ ở Hà Nội, rồi tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 đến 1980, ông số ng ta ̣i Hà Nô ̣i và gắn bó với nghề cầm bút.
Hành trình sáng tác của Tô Hoài trải qua 70 năm, đã để lại hơn 160 tác phẩm thuộc nhiề u th ể loại, đề tài : từ miền ngƣợc đến miền xuôi , cho đố i tƣơ ̣ng ngƣời lớn và cho thiế u nhi , từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ truyện đồng thoại đến hồ i ký và kịch bản phim, hồ i ký. Sự nghiê ̣p của Tô Hoài nhìn qua dấu mố c thời gian Trƣớc 1945 Tô Hoài đã xuấ t hiê ̣n trƣớc công chúng b ằng một loạt tác phẩm, nhƣ: Dế mèn phiêu lưu kí (1941), O chuột (1941), Quê người (1942), Giăng thề (1941), Nhà nghèo (1943), Nước lên (1942), Xóm Giếng ngày xưa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail. Tô Hoài đã sớm khẳ ng đinh ̣ tên tuổ i của miǹ h trong đời số ng văn chƣơng đƣơng thời. Ngay chặng đầu sáng tác, Tô Hoài đã sớm xác lập một phong cách riêng.
Nhà nghiên cứu Phong Lê đánh giá : “Trƣớc Cách mạng, truyện của Tô Hoài in đậm cảm quan nghệ thuật và giọng điệu riêng của ông-một cây bút sung sức, đứng bên Nam Cao, làm nên một dấu ấn đặc trƣng cho trào lƣu văn học hiện thực Việt Nam những năm tiền Cách mạng” [26, tr. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tƣ tƣởng và sáng tác. Theo nhiề u nhà nghiên cƣ́u , tâm trạng trăn trở, phân vân định hƣớng không dừng lại quá lâu ở Tô Hoài. Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau.
Trong đó, tiểu thuyết Miền Tây của ông đạt giải thƣởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi vào năm 1970. Bƣớc chuyển trong sáng tác của Tô Hoài đƣợc thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề tài. Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tƣợng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà còn hƣớng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp ngƣời, nhiều vùng đất khác nhau. Tây Bắc không còn là miền đất xa lạ, nó đã trở thành quê hƣơng thứ hai của Tô Hoài.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài đã có thời gian đi thƣ̣c tế và số ng v ới đồng bào Tây Bắc. Nhờ trải nghiê ̣m này , ông đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc (1948). Ở tác phẩm này ông đã thể hiện đƣợc cảnh sống vất vả, thiếu thốn, nhƣng giàu nghĩa tình đối với cách mạng, cũng nhƣ ý chí quyết tâm chiến đấu của ngƣời dân miền núi.
Tuy nhiên, tác phẩm này còn nặng về thể hiện, miêu tả các tài liệu, bề mặt của vấn đề mà ít đi vào khám phá chiều sâu, bản chất của nó để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 13 rồi “chết chìm trong tài liệu” nhƣ chính nhà văn đã tâm sự trong Một số kinh nghiệm viết văn của tôi. Phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có đƣợc sự thành công đặc sắc ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc. Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ mang âm hƣởng ngơ ̣i ca thành tƣ̣u của Cách ma ̣ng tháng Tám và chính sách dân tô ̣c lúc bấy giờ, và bộc lộ nhận thức của Tô Hoài về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cách mạng. Đề tài miề n núi c ủa Tô Hoài còn đƣơ ̣c tiế p tu ̣c qua nhi ều tác phẩm khác từ sau 1955, nhƣ: Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu,.
Tác phẩm về đề tài miề n núi của ông đƣơ ̣c xế p vào loại văn xuôi giàu chất thơ , với nhƣ̃ng miêu t ả phong tục tập quán lâu đời, những sinh hoạt truyền thống của cƣ dân vùng cao. Đó là : Truyện Tây Bắc (1953), Mười năm (1958), Vợ chồng A Phủ (1960), Miền Tây (1967). Tƣ̀ nhƣ̃ng năm 1980 trở đi sáng tác của Tô H oài mà đƣợc đọc rộng rãi là Tự truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1982), Quê nhà (1980, Cát bụi chân ai (1992), Chiề u chiề u (1999), Chuyện cũ Hà Nội (hai tập, 1988). lại dƣờng nhƣ quay về với trải nghiệm sống lâu đời của ông , là Hà Nội và ký ức.3 dƣới đây chúng tôi sẽ trở la ̣i kỹ hơn với giai đoa ̣n văn chƣơng này của Tô Hoài.
Với Mười năm (1958), nhà văn hƣớng đế n quá trình giác ng ộ cách mạng cũng nhƣ sức mạnh của quầ n chúng trong các ph ong trào đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột thời th ực dân phong kiến ở miền núi. Sau tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài còn viết nhiều tác phẩm khác về ngoại thành Hà Nội nhƣ: Quê nhà, Những ngõ phố, người đường phố, và gần đây là Chuyện cũ Hà Nội (hai tập). Điều đó cho thấy vốn sống, nguồn tƣ liệu, cũng nhƣ nguồn cảm hứng sáng tác của Tô Hoài về Hà Nội vô cùng phong phú đa dạng. Từ các tác phẩm viết về Hà Nội của ông, ngƣời đọc có điều kiện hiểu hơn về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 14 phong tục, nếp sinh hoạt, tên gọi phố phƣờng, con ngƣời Hà Nội trải dài suốt cả thế kỉ XX trong cuộc sống đời thƣờng và cả trong chiến tranh.
Đặc biệt, Tô Hoài có các tập truyê ̣n mang tính h ồi kí, nhƣ Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều. Hồ i ký của Tô Hoài đã tƣ̀ng trở thành nhƣ̃ng “vu ̣ viê ̣c” trong sinh hoa ̣t văn chƣơng hiê ̣n đa ̣i bởi nó hé lô ̣ mô ̣t vài góc khuấ t của một vài tác giả văn chƣơng quen thuộc và để lại dấu ấn trong thể loại này bởi nghê ̣ thuâ ̣t kể chuyê ̣n đô ̣c đáo. Bên cạnh những mảng sáng tác trên, Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều tác phẩm cho thiếu nhi nhƣ: Con mèo lười, Vừ A Dính, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử… Ở mảng sáng tác này, Tô Hoài vẫn có đƣợc đô ̣c giả của mình, tuy nhiên Dế mèn… vẫn là đin̉ h cao của di ̃ vañ g. Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt đƣợc thành tựu đặc sắc ở thể kí.
Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện sau những chuyến đi lên Tây Bắc nhƣ Nhật kí vùng cao, Lên Sùng Đô, hay đi thăm nƣớc bạn nhƣ Tôi thăm Cămpuchia, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng song cửa,. và một số kịch bản phim. Tuy nhiên, trong khuôn khổ giới ha ̣n của luận văn chúng tôi xin đƣợc lƣớt qua mảng tác phẩm này. Vả chăng đã có mô ̣t vài nghiên cƣ́u đề câ ̣p đế n nhƣ̃ng phƣơng diê ̣n này của Tô Hoài1.
Văn chương của Tô Hoài trước 1945 Nhìn lại mảng sáng tác trƣớc Cách mạng tháng Tám 1945 của Tô Hoài có thể thấy viết truyện là sở trƣờng và nét độc đáo c ủa ông. Sau này, Tô Hoài đã bộc bạch qua Tự truyện về việc ông đến với nghề văn, ông viết: “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba năm trƣớc Cách mạng tháng Tám, 1945 mà 1 Xin xem những bài trong cuốn Tô Hoài về tác gia và tác phẩm nhƣ: Thành phố Lê Nin - Bút ký của Tô Hoài (Nguyên Ngọc); Đọc Tôi thăm Cămpuchia (Xuân Trình); Kim Đồng - một bộ phim về truyền thống cách mạng của nhân dân ta (Nguyễn Hồ); Lên Sùng Đô của Tô Hoài (Phƣơng Thảo). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 15 tôi viết nhƣ chạy thi đƣợc năm truyện dài, truyện vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi nhƣ Dế mèn thì mấy chục truyện, cái in, cái chƣa in, tôi không nhớ hết. Viết để kiếm miếng sống lúc ấy thì phải viết khỏe nhƣ thế vậy” [26, tr.
Có thể thấy rõ c ảnh sắ c cũng nhƣ con ngƣ ời của vùng quê ven đô - quê ngoại và cũng là quê sinh ra tác giả là hiện thực đƣợc nhà văn quan tâm nhấ t trong giai đoa ̣n “viết khỏe” này. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếp ngƣời nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê ngƣời, những ngƣời thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn. Đó là số phận của chị Hối trong truyện Ông cúm bà co, bị ốm nhƣng không có thuốc men chữa chạy, rồi bệnh nặng dần vì kém hiểu biết, mê tín, kết cục phải “ra đồng” bỏ lại mấy đứa con thơ dại. Cay đắng hơn là số phận của bé Gái trong cảnh Nhà nghèo.
Nó sinh ra trong gia đình nghèo khổ, túng thiếu và nhiều lần chứng kiến cảnh cha mẹ cãi nhau. Nó bị rắn cắn chết trong khi cùng với cha mẹ cố tìm miếng ăn cho gia đình, “ngƣời nó có bao nhiêu xƣơng sƣờn, giơ hết ra cả”. Nếu nhƣ bức tranh Quê người là sự sụp đổ nhƣ chính cái xà ngang của ngôi nhà ọp ẹp bị gãy đổ ở cuối truyện.