Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Cao Anh Đức, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Anh, tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2023). Luận án thuộc chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, mã số 9.05 (mã số chuyên ngành theo hệ thống đào tạo của cơ sở).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) phát triển mạnh mẽ dựa trên nền tảng kỹ thuật số, mạng Internet kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo, mang lại nhiều bước tiến cho đời sống kinh tế - xã hội nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh thách thức an ninh phi truyền thống. Trong đó, tình hình tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), mạng viễn thông (MVT) — đặc biệt là tội sử dụng mạng máy tính (MMT), MVT, phương tiện điện tử (PTĐT) thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (CĐTS) theo quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) — đang gia tăng nhanh về số lượng, quy mô và mức độ thiệt hại.

Thực tiễn xét xử cho thấy số vụ án về tội danh này chiếm hơn 60% tổng số các vụ án trong lĩnh vực CNTT, MVT quy định tại Mục 2, Chương 21 BLHS năm 2015. Trung bình mỗi năm, số vụ án đưa ra xét xử tăng trên 70%. Mỗi vụ án trung bình có 187 bị hại, nhiều vụ án có số lượng bị hại lên tới hàng chục ngàn người với tổng số tiền bị chiếm đoạt lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Đặc biệt, tỷ lệ tội phạm ẩn của loại tội này ở mức cao: trên 51% số vụ án đã khởi tố phải tạm đình chỉ do không xác định được đối tượng phạm tội (theo số liệu thống kê tại Bảng 1, Phụ lục 1 của luận án). Phần lớn vụ án được phát hiện thông qua tin báo, tố giác của người dân và tổ chức chứ không phải do cơ quan tiến hành tố tụng chủ động phát hiện trực tiếp.

Về phương diện lý luận và áp dụng pháp luật, trước thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực (ngày 01/01/2018), nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất, thường áp dụng Điều 138 (tội trộm cắp tài sản) hoặc Điều 139 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) của BLHS năm 1999 thay vì áp dụng Điều 226b BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009. Đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ tội phạm học về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa và phân tích những luận cứ lý luận và thực tiễn về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa loại tội phạm này tại Việt Nam trong thời gian tới.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định và giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhiệm vụ thứ nhất: Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài; đánh giá kết quả nghiên cứu đã đạt được và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.
  2. Nhiệm vụ thứ hai: Nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS và lý luận về phòng ngừa loại tội phạm này (đặc điểm pháp lý hình sự, đặc điểm tội phạm học, khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung, biện pháp và chủ thể phòng ngừa).
  3. Nhiệm vụ thứ ba: Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng phòng ngừa tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS tại Việt Nam giai đoạn 2013–2022; làm rõ cơ cấu, động thái, nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm; chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác phòng ngừa.
  4. Nhiệm vụ thứ tư: Đưa ra dự báo tình hình tội phạm trong thời gian tới và đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Nghiên cứu tình hình tội phạm và công tác phòng ngừa theo quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (bổ sung năm 2009) và Điều 290 BLHS năm 2015 trong phạm vi chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm.
    • Về không gian: Địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam.
    • Về thời gian: Khảo sát, thu thập số liệu thực tế trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2013 đến năm 2022. Nguồn dữ liệu gồm số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao, 201 bản án sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân (TAND) các cấp và các báo cáo nghiệp vụ của các cơ quan chức năng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú ở cả nước ngoài và trong nước, phân chia thành các nhóm nội dung chính:

1. Nhóm công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu quốc tế tiếp cận tội phạm công nghệ cao qua nhiều thuật ngữ khác nhau như computer crime, cyber crime, hightech crime, computer-related crimes, electronic crimes. Các công trình tiêu biểu gồm:

  • Bản Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm (Phụ lục Nghị quyết 2002/13 của ECOSOC, ngày 24/7/2002) và Tuyên bố Salvador 2010 (bổ sung Nghị quyết số 65/230 của Đại hội đồng Liên hợp quốc): Xác định nguyên tắc lãnh đạo, đối tác, giảm cơ hội phạm tội và bảo vệ nạn nhân.
  • Báo cáo của UNODC (2013) (Comprehensive Study on Cyber Crime): Phân tích tính linh động, ẩn danh trong không gian mạng; xác định ba yếu tố làm tăng nguy cơ phạm tội gồm động cơ của thủ phạm, mục tiêu phù hợp và sự thiếu vắng kiểm soát, răn đe.
  • Graeme R. Newman và Ronald V. Clarke (2003) (Preventing E-commerce Crime, NXB Willan): Phân tích tội phạm lợi dụng thương mại điện tử để chiếm đoạt tài sản và đưa ra các biện pháp phòng ngừa kỹ thuật.
  • Báo cáo của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU, 2012) (Understanding Cyber Crime: Phenomena, Challenges and Legal response): Khái quát tính chất xuyên quốc gia của tội phạm mạng và yêu cầu chuyển hóa chứng cứ điện tử.
  • Các chuyên khảo của John Townsend (2004) (Cybercrime (True Crime)), David Wall (2007) (Cybercrime: The Transformation of Crime in the Information Age), Joshua B. Hill và Nancy E. Marion (2016) (Introduction to Cybercrime: Computer Crimes, Laws, and Policing in the 21st Century), Sameer Hinduja (chủ biên, 2007) (Computer crime investigation in US), Michael Kunz và Patrick Wilson (2007) (Computer crime and crime related to computer), Mohamed Chawki (2005) (A Critical Look at the Regulation of Cybercrime), Kudriavtsev (2003) (Chiến lược đấu tranh chống tội phạm).

2. Nhóm công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận tội phạm học trong nước

  • Các giáo trình, chuyên khảo nền tảng của Đào Trí Úc (1994, 2000), Võ Khánh Vinh (1994, 2000, 2013), Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh (2013), Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phạm Văn Tỉnh (2007), Nguyễn Ngọc Hòa (2008), Hồ Sỹ Sơn (2021). Nhóm nghiên cứu này thống nhất các khái niệm về tình hình tội phạm, thông số đo lường (mức độ, cơ cấu, động thái, tính chất), phần hiện, phần ẩn của tội phạm, cũng như hệ thống nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và các cấp độ phòng ngừa tội phạm.

3. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến tội phạm công nghệ cao và hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam

  • Công trình của Nguyễn Quang Nghĩa và Phạm Hải Bình (2014), Trần Đại Quang (chủ biên, 2015) (Không gian mạng tương lai và hành động), Nguyễn Xuân Yêm và Nguyễn Minh Đức (chủ biên, 2013), Vũ Nam Hà (1999), Phạm Văn Lợi (2007), Trần Văn Hòa (2011), Vũ Hải Triều (2007).
  • Các đề tài cấp Bộ: Đề tài mã số BC.052 do Nguyễn Minh Đức làm chủ nhiệm (2015) về điều tra tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT; đề tài do Nguyễn Hòa Bình làm chủ nhiệm (2009) về thực trạng và giải pháp phòng ngừa, điều tra tội phạm công nghệ cao của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
  • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Đào Văn Vạn (2014) (thu thập, đánh giá dấu vết điện tử), Lại Kiên Cường (2014) (phòng ngừa tội phạm thương mại điện tử), Trần Đoàn Hạnh (2018) (phòng ngừa tội phạm CNTT và viễn thông), Đỗ Quý Hoàng (2021) (pháp luật quốc tế về hợp tác đấu tranh tội phạm công nghệ cao), Đào Trung Hiếu (2021) (tội lừa đảo CĐTS trong kinh doanh đa cấp).
  • Các bài báo chuyên ngành của Nguyễn Viết Mạnh (2008), Nguyễn Minh Đức và Vũ Thị Hương Giang (2013), Nguyễn Minh Đức (2015) cùng chuỗi hội thảo Security World (2007–2015).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở diện rộng (toàn bộ nhóm tội phạm công nghệ cao) hoặc chỉ đi sâu vào một lĩnh vực hẹp (ngân hàng, thương mại điện tử, đa cấp), hoặc chỉ tiếp cận dưới góc độ điều tra hình sự nghiệp vụ của ngành công an. Luận án của tác giả Cao Anh Đức lựa chọn giải quyết khoảng trống học thuật về một công trình nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện dưới góc độ Tội phạm học đối với riêng tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS (Điều 290 BLHS năm 2015), xây dựng hệ thống lý luận phòng ngừa hoàn chỉnh kết hợp cả phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ, đồng thời đề xuất phương pháp mới xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tội phạm trong thời kỳ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số.

Về mặt lý thuyết chuyên ngành, tác giả vận dụng:

  • Lý luận Tội phạm học về tình hình tội phạm: xem xét tình trạng, cơ cấu, động thái, tính chất; phân tích mối quan hệ giữa phần tội phạm hiện và phần tội phạm ẩn.
  • Lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm: phân tích sự tương tác giữa các yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội/môi trường mạng và các yếu tố nhân thân của người phạm tội, kết hợp với các tình huống phạm tội cụ thể.
  • Lý luận Nạn nhân học: nghiên cứu yếu tố lỗi của nạn nhân (sự nhẹ dạ, hám lợi, thiếu hiểu biết công nghệ) và trách nhiệm của các bên cung cấp dịch vụ mạng/ngân hàng.
  • Khung khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành: Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (về dữ liệu điện tử, chứng cứ điện tử).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng theo quy tắc quy nạp và diễn dịch:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 290 BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ và thống kê xã hội học: Sử dụng tại Chương 3 để khảo sát 201 bản án sơ thẩm của TAND các cấp và các biểu mẫu thống kê hình sự của VKSND tối cao giai đoạn 2013–2022.
  • Phương pháp so sánh (so sánh định gốc, so sánh liên kế) và lịch sử: So sánh quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 với Điều 290 BLHS năm 2015; so sánh tội danh này với tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174).
  • Phương pháp xác định hệ đặc điểm chuyên biệt: Đưa ra phương pháp mới đánh giá cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính lãnh thổ.
  • Phương pháp chuyên gia, dự báo và hệ thống: Sử dụng tại Chương 4 để xây dựng mô hình dự báo và đề xuất các nhóm giải pháp phòng ngừa mang tính khả thi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Văn bản pháp luật quốc gia (BLHS năm 1999, BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị định số 25/2014/NĐ-CP) và các điều ước quốc tế.
  • Báo cáo số liệu thống kê tội phạm của VKSND tối cao từ năm 2013 đến năm 2022.
  • Tuyển tập 201 bản án sơ thẩm hình sự về tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS do TAND các cấp xét xử.
  • Báo cáo kết quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao của các cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng chức năng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân tích kết quả đạt được của các học giả đi trước và chỉ ra 5 nội dung cốt lõi đã được giới khoa học thống nhất:

  1. Tội phạm sử dụng công nghệ cao là loại tội phạm mới, phát sinh cùng với sự phát triển của CNTT và không gian mạng.
  2. Công cụ, phương tiện và môi trường hoạt động của tội phạm mang tính đặc thù (dữ liệu điện tử, không gian số).
  3. Phòng ngừa tội phạm công nghệ cao gặp nhiều rào cản do thủ đoạn biến hóa nhanh, đối tượng ẩn danh, hệ thống pháp luật chưa theo kịp tốc độ công nghệ.
  4. Đây là loại tội phạm có tổ chức mang tính xuyên quốc gia, đòi hỏi cơ chế tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế chặt chẽ.
  5. Công tác phòng ngừa đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, kết hợp giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.

Trên cơ sở đánh giá khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định 4 câu hỏi nghiên cứu và luận giải các giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo:

  • Câu hỏi 1: Tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS có gì khác biệt so với tội phạm truyền thống?
  • Câu hỏi 2: Tình hình tội này có gì khác biệt so với tình hình tội phạm chung trong lĩnh vực CNTT, MVT quy định tại Mục 2, Chương 21 BLHS năm 2015?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam diễn ra như thế nào, có phù hợp với lý luận tội phạm học và thực tiễn hay không?
  • Câu hỏi 4: Cơ sở nào để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tại Việt Nam trong thời gian tới?

Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Chương 2 xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về tội danh theo quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015 và lý thuyết phòng ngừa tội phạm chuyên biệt:

1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý hình sự

  • Khái niệm: Tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý bằng việc sử dụng không gian mạng, CNTT, PTĐT xâm phạm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng, qua đó xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
  • Khách thể: Khách thể trực tiếp là trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng (hoạt động an toàn, ổn định của MMT, MVT, PTĐT, cơ sở dữ liệu) và quan hệ sở hữu tài sản.
  • Mặt khách quan: Gồm 12 hành vi cụ thể quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015 với điều khoản loại trừ mang tính kỹ thuật lập pháp: "nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này". Các phương thức điển hình gồm: dùng thiết bị đọc trộm thẻ (Skimming); cài phần mềm gián điệp/virus lấy cắp thông tin thẻ tín dụng; lập website giả mạo (phishing); thu thập, mua bán dữ liệu thẻ tín dụng trên các diễn đàn hacker với giá từ 1–3 USD; truy cập bất hợp pháp tài khoản; lừa đảo thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán trực tuyến; thiết lập trái phép dịch vụ viễn thông/Internet. Tội phạm có cấu thành hình thức; hậu quả thiệt hại vật chất là tình tiết định khung tăng nặng.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, động cơ vụ lợi, mục đích bắt buộc là chiếm đoạt tài sản.
  • Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên; người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3, khoản 4 Điều 290).

2. Đặc điểm tội phạm học của tội danh

Tác giả đúc kết 7 đặc điểm tội phạm học đặc thù:

  1. Phát sinh từ việc triển khai ứng dụng CNTT; công cụ, phương tiện và môi trường gây án hoàn toàn mới; dấu vết để lại là dữ liệu điện tử.
  2. Người phạm tội có trình độ CNTT nhất định, sử dụng công nghệ cao để thực hiện và xóa dấu vết.
  3. Không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; tốc độ thực hiện tính bằng phần nhỏ của giây; số lượng nạn nhân và số tiền chiếm đoạt trong một vụ án đặc biệt lớn.
  4. Thường có tổ chức, tính chất xuyên quốc gia, liên kết nhiều nhóm đối tượng ở các địa bàn khác nhau.
  5. Người phạm tội, nạn nhân, máy chủ dữ liệu có thể ở các quốc gia khác nhau, đòi hỏi tính tương thích pháp luật và hợp tác quốc tế.
  6. Môi trường mạng vừa là công cụ gây án, vừa là "xã hội học tập" để tội phạm chia sẻ kinh nghiệm, thử nghiệm thủ đoạn mới.
  7. Tội phạm triệt để khai thác yếu tố lỗi, sự bất cẩn, thiếu hiểu biết của nạn nhân và lỗ hổng bảo mật của các tổ chức cung ứng dịch vụ mạng, ngân hàng.

3. Khái niệm, chủ thể và biện pháp phòng ngừa

  • Khái niệm phòng ngừa: Là tổng thể các biện pháp do các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước nhằm tác động vào nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm nhằm ngăn chặn, kiềm chế và từng bước đẩy lùi tội phạm.
  • Chủ thể phòng ngừa: Phân chia thành các nhóm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp; các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án); các tổ chức kinh tế, xã hội, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan truyền thông báo chí và quần chúng nhân dân.
  • Biện pháp phòng ngừa: Phân thành 2 nhóm lớn là Biện pháp phòng ngừa xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa - tư tưởng, giáo dục pháp luật, quản lý nhà nước) và Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ (điều tra cơ bản, sưu tra, trinh sát mạng, xác minh hiềm nghi, quản lý đối tượng nghiệp vụ).

Chương 3: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam

Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng tình hình tội phạm và công tác phòng ngừa trong 10 năm (2013–2022):

Chỉ tiêu phân tích thực trạng Dữ liệu thống kê / Đánh giá trong luận án
Tỷ trọng xét xử trong nhóm tội CNTT Chiếm trên 60% tổng số các vụ án thuộc Mục 2, Chương 21 BLHS năm 2015
Tốc độ gia tăng số vụ xét xử Tăng bình quân trên 70% mỗi năm
Quy mô bị hại trung bình 187 bị hại/vụ án (nhiều vụ lên tới hàng chục ngàn người)
Tỷ lệ tội phạm ẩn (tạm đình chỉ) Trên 51% số vụ án đã khởi tố phải tạm đình chỉ do không xác định được thủ phạm
Nguồn phát hiện tội phạm Chủ yếu từ tố giác, tin báo của cá nhân, tổ chức (hiếm khi cơ quan tố tụng phát hiện trực tiếp)
Quy mô mẫu khảo sát bản án 201 bản án sơ thẩm hình sự của TAND các cấp

Chương này phân tích sâu sắc các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm:

  • Nguyên nhân từ môi trường mạng và quản lý nhà nước: Sự phát triển nhanh của hạ tầng mạng chưa đi đôi với cơ chế kiểm soát; tình trạng sim rác, tài khoản ngân hàng "rác" (mua bán CMND/CCCD để mở tài khoản) còn phổ biến; lỗ hổng trong quản lý thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến và tiền ảo.
  • Nguyên nhân từ phía nạn nhân: Thiếu kiến thức bảo mật, chủ quan, nhẹ dạ, mất cảnh giác trước các thủ đoạn mạo danh cơ quan chức năng hoặc chiêu trò đầu tư siêu lợi nhuận.
  • Thực trạng phòng ngừa: Đánh giá kết quả triển khai các biện pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; chỉ ra những hạn chế như nguồn lực đầu tư chưa tương xứng, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ giám định dữ liệu điện tử còn thiếu, năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn công nghệ số.

Chương 4: Dự báo và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam

Dựa trên cơ sở phân tích khoa học và động thái phát triển công nghệ, Chương 4 đưa ra dự báo: loại tội phạm này sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, mở rộng quy mô, triệt để ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới, hình thành các đường dây tội phạm xuyên quốc gia tinh vi hơn.

Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về thu thập, bảo quản, chuyển hóa chứng cứ điện tử.
  2. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục: Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và kỹ năng tự bảo vệ của người dân khi tham gia không gian mạng.
  3. Nâng cao trách nhiệm của các chủ thể phòng ngừa: Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành từ Trung ương đến địa phương.
  4. Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước: Quản lý chặt chẽ dịch vụ viễn thông, mạng Internet, siết chặt đăng ký thuê bao, tài khoản ngân hàng điện tử, giao dịch thanh toán trực tuyến.
  5. Tăng cường phối hợp giữa các chủ thể: Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin nhanh chóng giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án với các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng viễn thông/Internet.
  6. Mở rộng hợp tác quốc tế: Tăng cường phối hợp với Interpol, Europol và các cơ quan thực thi pháp luật quốc tế trong thu thập dấu vết điện tử và dẫn độ tội phạm.
  7. Xây dựng lực lượng chuyên trách: Đào tạo cán bộ chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn công nghệ; đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại.
  8. Nâng cao hiệu quả các hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ: Chủ động nắm tình hình trên không gian mạng, phát hiện sớm các lỗ hổng hệ thống và phương thức phạm tội mới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung toàn diện lý luận chuyên ngành Tội phạm học về tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS tại Việt Nam.
  • Làm sáng tỏ 7 đặc điểm tội phạm học đặc thù của loại tội phạm này, giúp phân biệt rõ ràng giữa tội danh quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015 với các tội xâm phạm sở hữu truyền thống (Điều 173, Điều 174) và các tội phạm CNTT khác.
  • Đề xuất phương pháp mới xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính lãnh thổ, tạo cơ sở phương pháp luận có thể áp dụng chung cho nghiên cứu tội phạm công nghệ cao.
  • Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm, nguyên tắc, nội dung và hệ thống chủ thể, biện pháp phòng ngừa chuyên biệt (kết hợp đồng bộ phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đưa ra bức tranh thực trạng tội phạm qua nguồn dữ liệu 10 năm (2013–2022) từ VKSND tối cao và khảo sát chi tiết 201 bản án sơ thẩm của TAND các cấp, chỉ rõ mức độ thiệt hại và tỷ lệ tội phạm ẩn (trên 51%).
  • Chỉ ra các sơ hở, thiếu sót cụ thể trong quản lý nhà nước về viễn thông, tài khoản ngân hàng và các yếu tố tiêu cực từ phía nạn nhân.
  • Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp toàn diện, có tính khả thi cao, góp phần hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao năng lực lực lượng chức năng và bảo vệ trật tự an toàn không gian mạng tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn trong mốc thời gian 10 năm (2013–2022) dựa trên 201 bản án sơ thẩm hình sự và số liệu thống kê của VKSND tối cao. Do tính chất đặc thù của tội phạm công nghệ cao có tỷ lệ tội phạm ẩn lớn (trên 51% vụ án đình chỉ), việc lượng hóa đầy đủ toàn bộ thiệt hại thực tế phát sinh trên không gian mạng chưa thể bao quát tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục thử nghiệm và chuẩn hóa phương pháp xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính trên các nhóm tội phạm công nghệ cao khác.
    • Nghiên cứu sâu các phương thức phạm tội mới phát sinh khi các công nghệ điều khiển học, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (blockchain) phát triển nhanh chóng.
    • Hoàn thiện quy trình pháp lý về chuyển hóa dữ liệu điện tử xuyên biên giới thành chứng cứ chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Điều tra tội phạm; có thể sử dụng luận án làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm công nghệ cao.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Tham khảo các phân tích pháp lý để định danh tội danh chính xác theo Điều 290 BLHS năm 2015, tránh nhầm lẫn với Điều 173 (trộm cắp) và Điều 174 (lừa đảo); nắm vững các kỹ thuật xử lý dấu vết và chứng cứ điện tử.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước): Tham khảo căn cứ thực tiễn để hoàn thiện cơ chế quản lý sim thuê bao, tài khoản ngân hàng điện tử, sàn thương mại điện tử và các cổng thanh toán trung gian.
  • Các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp công nghệ và người sử dụng mạng: Nhận diện các phương thức phạm tội phổ biến (Skimming, Phishing, giả mạo thông báo an ninh ngân hàng) để chủ động xây dựng giải pháp kỹ thuật phòng vệ và nâng cao ý thức cảnh giác.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cốt lõi về mặt khách quan giữa tội danh tại Điều 290 BLHS năm 2015 với tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) là gì?

Điểm khác biệt cơ bản là dấu hiệu sử dụng phương tiện phạm tội bắt buộc: tội phạm theo Điều 290 bắt buộc phải sử dụng MMT, MVT, PTĐT hoặc không gian mạng để thực hiện 12 nhóm hành vi phạm tội cụ thể (như skimming, tạo web giả mạo, truy cập trái phép tài khoản, gian dối trong thanh toán điện tử...). Ngoài ra, nhà làm luật đã bổ sung điều khoản loại trừ mang tính kỹ thuật: "nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này" nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất, tránh định sai tội danh.

2. Những con số thống kê thực tế nào trong luận án phản ánh tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm này tại Việt Nam?

Luận án chỉ ra các số liệu thực tế nổi bật trong giai đoạn nghiên cứu:

  • Chiếm hơn 60% tổng số các vụ án trong lĩnh vực CNTT, MVT quy định tại Mục 2, Chương 21 BLHS năm 2015.
  • Số vụ án Tòa án đưa ra xét xử tăng trung bình trên 70% mỗi năm.
  • Trung bình mỗi vụ án có 187 bị hại; nhiều vụ có số lượng nạn nhân lên tới hàng chục ngàn người với số tiền chiếm đoạt hàng ngàn tỷ đồng.
  • Tỷ lệ tội phạm ẩn rất cao: trên 51% số vụ án đã khởi tố phải tạm đình chỉ điều tra do không tìm được đối tượng phạm tội.

3. Tại sao tỷ lệ tội phạm ẩn (tạm đình chỉ điều tra) của loại tội phạm này lại vượt quá 51%?

Do đối tượng phạm tội hoạt động trên không gian mạng có tính ẩn danh cao, có trình độ CNTT giỏi, thực hiện việc xóa dấu vết điện tử ngay sau khi gây án, tạo ra môi trường ảo để che giấu danh tính và thường không có mối quan hệ trực tiếp ngoài đời thực với nạn nhân. Ngoài ra, máy chủ hoặc đối tượng cầm đầu thường ở nước ngoài, trong khi năng lực thu thập, chuyển hóa chứng cứ điện tử và cơ chế tương trợ tư pháp quốc tế còn nhiều khó khăn, vướng mắc.

4. Luận án đã làm rõ những thủ đoạn phạm tội công nghệ cao điển hình nào?

Luận án phân tích chi tiết các thủ đoạn:

  • Dùng thiết bị Skimming gắn tại cây ATM hoặc máy cà thẻ để đọc trộm dải từ, sao chép thông tin thẻ ngân hàng.
  • Cài đặt phần mềm gián điệp, virus vào máy tính cá nhân để ghi lại thao tác bàn phím (keylogger) và đánh cắp thông tin thẻ.
  • Lập trang web giả mạo ngân hàng (phishing), gửi email nặc danh yêu cầu khách hàng đổi mật khẩu để chiếm đoạt quyền truy cập tài khoản.
  • Mua bán dữ liệu thẻ tín dụng bị đánh cắp trên các diễn đàn hacker ngầm với giá rẻ (1–3 USD/thẻ).
  • Mua CMND/CCCD giả trên mạng để mở tài khoản ngân hàng "rác" nhằm nhận, chuyển và rửa tiền chiếm đoạt được.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp phòng ngừa trọng tâm nào?

Tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp đồng bộ: hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật về chứng cứ điện tử; tăng cường tuyên truyền kỹ năng an toàn số cho người dân; nâng cao trách nhiệm của từng chủ thể phòng ngừa; siết chặt quản lý nhà nước về sim viễn thông và tài khoản thanh toán; tăng cường phối hợp liên ngành (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Ngân hàng, Viễn thông); đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh tội phạm xuyên quốc gia; xây dựng lực lượng chuyên trách trong sạch, tinh thông nghiệp vụ và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật; nâng cao hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ cơ bản trên không gian mạng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Cao Anh Đức là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS tại Việt Nam dưới góc độ Tội phạm học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích lý luận pháp lý hình sự, tội phạm học và khảo sát thực tiễn 10 năm (2013–2022) với 201 bản án sơ thẩm, công trình đã làm sáng tỏ bản chất, quy mô, nguyên nhân, điều kiện và mức độ tội phạm ẩn của loại tội phạm công nghệ cao này. Hệ thống 8 nhóm giải pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ do luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ hữu ích cho việc hoàn thiện chính sách hình sự và bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng tại Việt Nam trong kỷ nguyên số.