Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản – thực tiễn tại Hải Phòng" được thực hiện bởi sinh viên Trần Văn Phú, chuyên ngành Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lương Thị Kim Dung. Đề tài thuộc nhóm nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp đánh giá thực tiễn tư pháp hình sự.
Bối cảnh nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế nhanh chóng của thành phố Hải Phòng. Với vị thế là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, đầu mối giao thông trọng điểm và có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2021 đạt 12,38% (dẫn đầu cả nước), Hải Phòng đồng thời phải đối mặt với nhiều áp lực phức tạp về trật tự an toàn xã hội. Sự gia tăng phân hóa giàu nghèo kéo theo tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất nguy hiểm. Đáng chú ý, các đối tượng phạm tội cướp tài sản có xu hướng liên kết thành băng nhóm, hoạt động chuyên nghiệp, sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm và thể hiện tính côn đồ, manh động. Nhiều trường hợp ban đầu là trộm cắp, cướp giật nhưng khi bị phát hiện đã dùng vũ lực chống trả quyết liệt để giữ tài sản hoặc tẩu thoát, dẫn đến chuyển hóa thành tội cướp tài sản.
Về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả chỉ ra rằng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân đối với tội cướp tài sản trên địa bàn vẫn còn tồn tại sai sót: xác định không đúng tội danh, áp dụng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thiếu chính xác, quyết định mức hình phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ), một số bản án phải qua nhiều cấp xét xử hoặc bị sửa án. Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cấp bách trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hình phạt, nguyên tắc và căn cứ áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản.
- Phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội cướp tài sản và áp dụng hình phạt; đồng thời khảo sát, đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2021 nhằm chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng và các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng áp dụng hình phạt đối với tội phạm này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hải Phòng, trực tiếp tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp thuộc thành phố.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu xét xử từ năm 2018 đến năm 2021.
- Phạm vi pháp lý: Các quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nền tảng lý luận của khóa luận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, chính sách hình sự và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về cơ sở học thuật chuyên ngành, tác giả tiếp thu khung lý thuyết về định tội danh và quyết định hình phạt từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các luật gia và nhà nghiên cứu tại Việt Nam như: Giáo trình "Định tội danh và áp dụng hình phạt" của PGS.TS. Trần Văn Độ và Hoàng Mạnh Hùng (NXB Công an nhân dân, 2019); sách "Định tội danh và quyết định hình phạt" của TS. Dương Tuyết Miên (2007); sách "Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của TS. Lê Văn Đệ (2010); cùng các luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tại các địa phương của các tác giả Nguyễn Thành Chung (Quảng Ninh), Hồ Ngọc Linh (Hải Dương), Nguyễn Thanh Liêm (Long An), Nguyễn Thị Tuyết Thanh (TP. Hồ Chí Minh), Võ Thành Phước (Bình Phước).
Khung pháp lý được khóa luận sử dụng làm thước đo phân tích bao gồm:
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Trọng tâm là Điều 30 (khái niệm hình phạt), Điều 31 (mục đích hình phạt), Điều 32 và 33 (hệ thống hình phạt đối với cá nhân và pháp nhân), Điều 50 (căn cứ quyết định hình phạt), Điều 51 (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự), Điều 52 (tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 54 (quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt), Điều 29 (miễn trách nhiệm hình sự), Điều 59 (miễn hình phạt), Điều 65 (án treo), Chương XII về quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, và Điều 168 quy định về tội cướp tài sản.
- Các văn bản pháp luật bổ trợ: Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 158 về các quyền năng sở hữu); Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 (khoản 1 Điều 3); Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng chế định án treo.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, cấu trúc điều luật, các căn cứ quyết định hình phạt và tổng hợp các luận điểm khoa học pháp lý.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: Đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 với Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009) nhằm nhận diện những điểm sửa đổi, bổ sung mới; so sánh mức độ nguy hiểm của hành vi cướp tài sản với cưỡng đoạt tài sản.
- Phương pháp thống kê xã hội học/tội phạm học: Sử dụng để xử lý số liệu vụ án thụ lý, xét xử, cơ cấu các loại hình phạt được áp dụng đối với tội cướp tài sản tại Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2021.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn qua hồ sơ vụ án: Khảo sát chọn mẫu 100 bản án hình sự sơ thẩm và đi sâu phân tích các vụ án cụ thể có sai sót hoặc vướng mắc điển hình trong việc áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng và Tòa án nhân dân quận Hải An.
Nguồn dữ liệu thực chứng gồm có: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng các năm 2018, 2019, 2020 và 2021; số liệu từ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Hải Phòng (2021); Niên giám của Tổng cục Thống kê; hồ sơ lưu trữ các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và các quận, huyện trực thuộc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản
Chương 1 làm rõ các vấn đề mang tính lý luận nền tảng của khoa học luật hình sự về tội phạm và hình phạt:
- Hệ thống khái niệm: Tác giả trích dẫn định nghĩa hình phạt tại Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhấn mạnh đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Tiếp thu quan điểm của PGS.TS. Trần Văn Độ, khóa luận xác định áp dụng hình phạt là một giai đoạn và một nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Giai đoạn này được thực hiện sau khi định tội danh; trên cơ sở các tình tiết của vụ án, Tòa án lựa chọn biện pháp trách nhiệm hình sự, loại và mức hình phạt cụ thể trong chế tài quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội thông qua bản án kết tội. Khái niệm tội cướp tài sản được xác định tại Điều 168 là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Đặc điểm và nguyên tắc áp dụng hình phạt: Tác giả chỉ rõ bốn đặc điểm đặc thù: (1) Về chủ thể và đối tượng (chỉ Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng đối với người bị kết tội cướp tài sản có hiệu lực pháp luật); (2) Về tính lựa chọn và tùy nghi của Hội đồng xét xử trong khung hình phạt đa dạng; (3) Về tính khoa học và sáng tạo đòi hỏi bản lĩnh, đạo đức của Thẩm phán và Hội thẩm; (4) Về trình tự, thủ tục (phải thực hiện sau khi đã hoàn thành việc định tội danh). Quá trình này chịu sự chi phối của các nguyên tắc: nhân đạo; cá thể hóa hình phạt; công bằng; bảo đảm tính quyết định xã hội; độc lập, vô tư, khách quan, toàn diện.
- Căn cứ quyết định hình phạt đối với tội cướp tài sản (Điều 50 BLHS): Bao gồm: Căn cứ vào các quy định tại Phần chung và Phần các tội phạm (Điều 168) của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cướp tài sản (đánh giá hậu quả thiệt hại vật chất và phi vật chất, mức độ lỗi, mức độ thực hiện hành vi); Căn cứ vào nhân thân người phạm tội (bao gồm đặc điểm pháp lý hình sự, đặc điểm xã hội - nhân khẩu và đặc điểm tâm lý - đạo đức); Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 51 và Điều 52 BLHS).
- Ý nghĩa: Việc áp dụng đúng hình phạt đem lại ba giá trị cốt lõi: ý nghĩa chính trị - xã hội (củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, bảo đảm trật tự xã hội); ý nghĩa pháp lý (bảo đảm hiệu lực thi hành án, phản ánh tính đúng đắn của luật thực định); ý nghĩa thực tiễn (răn đe, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung).
Chương 2: Các quy định về áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 - thực tiễn áp dụng tại Hải Phòng
Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, kết hợp giữa đối chiếu lập pháp và xử lý số liệu thực tiễn xét xử:
- Quy định pháp luật hiện hành: Khóa luận phân tích cấu trúc 5 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Khoản 1: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (cấu thành cơ bản).
- Khoản 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (các tình tiết định khung: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe 11% - 30%; sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; chiếm đoạt tài sản từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, không thể tự vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tái phạm nguy hiểm).
- Khoản 3: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng; thương tích 31% - 60%; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh).
- Khoản 4: Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên; thương tích cho 01 người từ 61% trở lên hoặc cho 02 người trở lên mà mỗi người từ 31% trở lên; làm chết người; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp).
- Khoản 5: Chuẩn bị phạm tội cướp tài sản bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Khoản 6: Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Các điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật năm 1999: Bãi bỏ tình tiết định tính trừu tượng ("gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng"); bỏ hình phạt tử hình tại khoản 4; bổ sung cụ thể các tình tiết mới như lợi dụng thiên tai, dịch bệnh, hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phạm tội đối với đối tượng dễ bị tổn thương; quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 5.
- Áp dụng trong các trường hợp đặc biệt: Phân tích điều kiện miễn trách nhiệm hình sự (Điều 16, Điều 29), miễn hình phạt (Điều 59), quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật (Điều 54) và các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91, Điều 92: mức phạt tù cao nhất không quá 18 năm đối với tù chung thân, không quá 3/4 mức hình phạt thông thường đối với tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung).
- Thực tiễn xét xử tội cướp tài sản tại Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2021:
| Năm |
Tổng số thụ lý xét xử tội phạm chung (Vụ / Bị cáo) |
Thụ lý xét xử tội cướp tài sản (Vụ / Bị cáo) |
Tỷ lệ vụ cướp / Tổng số vụ (%) |
Tỷ lệ bị cáo cướp / Tổng số bị cáo (%) |
| 2018 |
1.656 / 2.567 |
81 / 133 |
4,64% |
4,92% |
| 2019 |
1.767 / 2.765 |
92 / 160 |
4,94% |
5,40% |
| 2020 |
2.002 / 2.999 |
103 / 180 |
5,11% |
5,88% |
| 2021 |
2.101 / 3.100 |
109 / 195 |
4,93% |
5,91% |
| Tổng |
7.526 / 11.431 |
385 / 668 |
19,62% (TB toàn kỳ) |
22,11% (TB toàn kỳ) |
Nguồn: Phòng Thống kê nghiệp vụ TAND thành phố Hải Phòng (2018 - 2021)
Cơ cấu các hình phạt đã áp dụng đối với 668 bị cáo phạm tội cướp tài sản giai đoạn 2018 - 2021 được khóa luận tổng hợp:
| Năm |
Số vụ |
Số bị cáo |
Án treo |
Tù $\le$ 3 năm |
Tù > 3 đến 7 năm |
Tù > 7 đến 15 năm |
Tù > 15 đến 20 năm |
Tù chung thân |
Áp dụng HP bổ sung |
| 2018 |
81 |
133 |
9 |
10 |
90 |
30 |
11 |
5 |
29 |
| 2019 |
92 |
160 |
8 |
11 |
92 |
32 |
16 |
7 |
24 |
| 2020 |
103 |
180 |
8 |
12 |
92 |
35 |
18 |
8 |
38 |
| 2021 |
109 |
195 |
9 |
6 |
98 |
39 |
23 |
10 |
40 |
| Tổng |
385 |
668 |
34 |
39 |
372 |
136 |
68 |
30 |
131 |
Nguồn: Văn phòng Tổng hợp số liệu thống kê TAND thành phố Hải Phòng (2018 - 2021)
- Những hạn chế, sai sót trong thực tiễn được chỉ ra qua hồ sơ vụ án:
- Áp dụng sai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án sơ thẩm số 17 ngày 15/7/2018 của TAND quận Hồng Bàng, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tái phạm (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS cũ) để xử phạt Phạm Văn A 8 năm 6 tháng tù. Tuy nhiên, tiền án năm 2017 của A xảy ra khi bị cáo chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 6 Điều 69 BLHS (án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm), TAND thành phố Hải Phòng khi xét xử phúc thẩm đã sửa án, giảm hình phạt xuống còn 7 năm 6 tháng tù.
- Đánh giá sai tính chất vụ án và vai trò đồng phạm dẫn đến lượng hình quá nặng: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 5172019/HSST ngày 27/4/2020 của TAND quận Hải An đối với vụ án Nguyễn Văn Phụng và Hồ Văn Phi. Phụng nhờ Phi đi đòi khoản nợ cá độ bóng đá 400 triệu đồng từ Đỗ Văn Thức; Phi tự ý mang theo súng bắn điện dí vào đầu và đập vào đầu Thức gây thương tích 02%. Tòa sơ thẩm xử phạt Phụng 8 năm 6 tháng tù theo điểm d khoản 2 Điều 168. Tác giả chứng minh mức án này là quá nặng vì hồ sơ không có chứng cứ thể hiện Phụng bàn bạc cách thức đòi nợ với Phi, không biết Phi mang súng điện, tài sản chưa chiếm đoạt được và Phụng có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, không có nhân thân xấu.
- Lạm dụng và áp dụng sai quy định quyết định hình phạt nhẹ hơn khung (Điều 54 BLHS): Khảo sát 100 bản án phát hiện 6 bản án (chiếm 6%) cho bị cáo hưởng mức án dưới khung khi chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và các tình tiết tại khoản 2 Điều 51 (trong khi luật yêu cầu phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1). Ngoài ra, Tòa án còn lạm dụng các tình tiết ngoài luật tại khoản 2 Điều 51 như "bị cáo là sinh viên", "có chồng đang chấp hành án phạt tù".
- Sai phạm trong việc cho hưởng án treo (Điều 65 BLHS): Tồn tại trường hợp bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu nhưng Tòa án vận dụng Điều 54 hạ xuống 3 năm tù rồi tiếp tục áp dụng Điều 65 cho hưởng án treo, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản
Chương 3 đề xuất 2 nhóm giải pháp chính:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự:
- Sửa đổi Điều 168 BLHS năm 2015: Đề xuất xác định lại mặt khách quan theo hướng: chỉ những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe để chiếm đoạt tài sản mới cấu thành tội cướp tài sản; hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhưng không nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe nên chuyển hóa xử lý về tội Cưỡng đoạt tài sản (Điều 170). Tác giả cho rằng phân biệt thời gian đe dọa "ngay tức khắc" hay "sẽ dùng vũ lực" hiện nay không phản ánh đúng mức độ nguy hiểm thực tế. Về khách thể, cần giới hạn đối tượng tác động của tội cướp tài sản là tài sản hữu hình (vật, tiền, giấy tờ có giá), không nên mở rộng sang quyền tài sản hay bất động sản do đặc tính cưỡng chế chiếm đoạt trực tiếp.
- Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất: Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn rõ: tình tiết "hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được"; phân hóa tình tiết "có tổ chức" giữa đồng phạm giản đơn với băng nhóm có tổ chức chặt chẽ; định lượng tiêu chí "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội"; tháo gỡ bất hợp lý khi đánh đồng mức độ nghiêm khắc giữa hành vi sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm (chưa gây thương tích) với hành vi đã gây thương tích từ 11% đến 30% trong cùng khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù (khoản 2). Đáng chú ý, tác giả đề xuất xem xét khôi phục hình phạt tử hình tại khoản 4 Điều 168 đối với trường hợp đặc biệt manh động gây chết người nhằm tăng tính răn đe.
- Hoàn thiện các chế định chung: Đề nghị hủy bỏ điều kiện bắt buộc "tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả" tại khoản 3 Điều 29 BLHS (nhằm mở rộng phạm vi miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp bị hại tự nguyện xin bãi nại hoặc không có thiệt hại); thay đổi nhận thức về mục đích hình phạt tại Điều 31 BLHS (giảm bớt định kiến coi nặng sự trừng trị, thúc đẩy tính phục hồi, hướng thiện); cụ thể hóa căn cứ "tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội" tại Điều 50 BLHS; ban hành tiêu chí rõ ràng cho các tình tiết giảm nhẹ "mở" tại khoản 2 Điều 51; hướng dẫn thống nhất việc áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS là trường hợp độc lập hay phải đi kèm điều kiện của khoản 1.
- Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện tại Hải Phòng: Tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ năng và chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án trong thu thập, đánh giá chứng cứ; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và đạt được các kết quả khoa học cụ thể:
- Làm sáng tỏ các quy định pháp luật hình sự hiện hành về cấu thành và chế tài xử lý tội cướp tài sản, chỉ ra được các điểm xung đột và khoảng trống lập pháp trong việc cá thể hóa hình phạt tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về tình hình xét xử tội cướp tài sản tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2018 - 2021 thông qua dữ liệu thống kê chính thống (385 vụ án với 668 bị cáo, tỷ lệ giải quyết đạt 96% số vụ thụ lý). Khóa luận làm rõ khung hình phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm chiếm tỷ lệ áp đảo với 372/668 bị cáo (55,69%), tiếp theo là khung từ trên 07 năm đến 15 năm với 136/668 bị cáo (20,36%).
- Nhận diện trực diện 4 dạng sai sót mang tính điển hình trong xét xử sơ thẩm: áp dụng sai tình tiết tăng nặng đối với tiền án của người dưới 16 tuổi; áp dụng mức án quá nghiêm khắc do không phân hóa vai trò đồng phạm; tỷ lệ sai phạm chiếm 6% trong áp dụng Điều 54 qua khảo sát 100 bản án; và sai phạm trong áp dụng chế định án treo.
- Về mặt đóng góp, đây là công trình đầu tiên tại địa bàn Hải Phòng nghiên cứu chuyên biệt về áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản gắn liền với số liệu thực tế giai đoạn 2018 - 2021. Đề tài đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể đối với Điều 29, Điều 31, Điều 50, Điều 51, Điều 54 và Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn nhất định phản ánh đúng phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Hạn chế về dữ liệu và mẫu khảo sát: Nguồn số liệu thực chứng bị giới hạn trong phạm vi 4 năm (2018 - 2021) trên địa bàn thành phố Hải Phòng; khảo sát sâu bản án chỉ dừng lại ở quy mô mẫu 100 bản án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp. Đề tài chưa mở rộng khảo sát so sánh đối chiếu với các địa phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội đô thị cảng tương đồng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu thực tiễn xét xử tội cướp tài sản trong giai đoạn tiếp nối sau năm 2021, theo dõi việc thi hành các văn bản giải đáp nghiệp vụ và án lệ mới của Tòa án nhân dân tối cao; đồng thời đào sâu nghiên cứu tội phạm học về cơ chế chuyển hóa tội phạm từ cướp giật, trộm cắp sang cướp tài sản trong điều kiện tội phạm công nghệ cao và tội phạm có tổ chức phát triển.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học (đặc biệt là ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học) tham khảo phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát hồ sơ bản án thực tế.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham gia giải quyết các vụ án cướp tài sản. Nội dung phân tích lỗi vô ý/cố ý đối với việc mang vũ khí của đồng phạm và điều kiện không tính tái phạm đối với người dưới 16 tuổi có giá trị thực tiễn trực tiếp trong quá trình định khung và tranh tụng.
- Các cơ quan lập pháp và cơ quan giải thích áp dụng pháp luật khi nghiên cứu sửa đổi Bộ luật Hình sự hoặc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 54 và Điều 168 BLHS.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Phân tích chi tiết các điểm mới của Điều 168 BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 (trang 17-18).
- Trích lục và bình luận 2 vụ án thực tế có sai sót nghiệp vụ tại TAND quận Hồng Bàng và TAND quận Hải An (trang 27-28).
- Hệ thống đề xuất sửa đổi kỹ thuật lập pháp đối với Điều 168, Điều 29 và Điều 54 BLHS (trang 31-39).
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao bản án sơ thẩm số 17 ngày 15/7/2018 của TAND quận Hồng Bàng bị TAND thành phố Hải Phòng sửa án, giảm hình phạt cho bị cáo Phạm Văn A?
Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND quận Hồng Bàng đã áp dụng sai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm (theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS cũ) đối với Phạm Văn A. Hồ sơ thể hiện tiền án năm 2017 của A được thực hiện khi bị cáo chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 6 Điều 69 BLHS (nay quy định tại Điều 107 BLHS 2015): "Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm". Do áp dụng sai tình tiết tăng nặng, TAND thành phố Hải Phòng tại cấp phúc thẩm đã sửa án, giảm mức phạt từ 8 năm 6 tháng tù xuống còn 7 năm 6 tháng tù.
2. Tỷ lệ sai sót khi áp dụng quy định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Điều 54 BLHS) qua khảo sát thực tế tại Hải Phòng là bao nhiêu?
Qua nghiên cứu 100 bản án xét xử về tội cướp tài sản tại Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2021, tác giả phát hiện có 6 bản án mắc sai sót trong việc áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015, chiếm tỷ lệ 6%. Sai sót chủ yếu là Tòa án cho bị cáo hưởng mức án dưới khung khi bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ luật định tại khoản 1 Điều 51 và 1 tình tiết tại khoản 2 Điều 51, vi phạm điều kiện bắt buộc của khoản 1 Điều 54 (phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51).
3. Tác giả luận văn đề xuất tiêu chí gì để phân biệt hành vi trong cấu thành tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản?
Tác giả đề xuất hoàn thiện Điều 168 BLHS theo hướng: chỉ những hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực có tính chất nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe mới cấu thành tội cướp tài sản; còn hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực không nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe thì cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170). Tác giả lập luận rằng việc phân biệt thời gian đe dọa dùng vũ lực "ngay tức khắc" (cướp) và "sẽ dùng vũ lực" (cưỡng đoạt) theo luật hiện hành không phản ánh đúng mức độ nguy hiểm thực tế của hành vi.
4. Trong giai đoạn 2018 - 2021, TAND hai cấp tại Hải Phòng đã áp dụng loại hình phạt nào nhiều nhất đối với tội cướp tài sản?
Trong tổng số 668 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội cướp tài sản tại Hải Phòng, hình phạt tù có thời hạn từ trên 03 năm đến 07 năm được áp dụng phổ biến nhất với 372 bị cáo (chiếm 55,69%). Tiếp theo là khung từ trên 07 năm đến 15 năm với 136 bị cáo (chiếm 20,36%), từ trên 15 năm đến 20 năm có 68 bị cáo, tù từ 03 năm trở xuống có 39 bị cáo, tù chung thân có 30 bị cáo, cho hưởng án treo có 34 bị cáo và 131 bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung.
5. Tại sao tác giả đề nghị hủy bỏ điều kiện "tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả" tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015?
Theo tác giả, quy định bắt buộc phải tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả tại khoản 3 Điều 29 BLHS đã vô tình thu hẹp phạm vi miễn trách nhiệm hình sự. Trong những trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý nhưng thực tế chưa gây ra thiệt hại, hoặc người bị hại tự nguyện không yêu cầu bồi thường và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, việc luật vẫn đòi hỏi điều kiện "đã bồi thường" sẽ khiến cơ quan tố tụng không thể áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự cho họ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Văn Phú đã phản ánh toàn diện thực trạng áp dụng hình phạt đối với tội cướp tài sản tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2021 thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận luật hình sự với dữ liệu thống kê 385 vụ án và 668 bị cáo. Công trình đã làm rõ những kết quả xét xử nghiêm minh cũng như chỉ ra các sai sót cụ thể trong việc áp dụng tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và chế định quyết định hình phạt dưới khung tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang tính toàn diện, bao gồm sửa đổi cấu thành và chế tài Điều 168 BLHS năm 2015, hoàn thiện các chế định chung về căn cứ lượng hình và nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng tại Hải Phòng.