phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 Chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam. Chƣơng 2: Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội cướp giật tài sản. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội cƣớp giật tài sản và phân biệt tội cƣớp giật tài sản với một số tội phạm khác 1. Khái niệm tội cướp giật tài sản Tại Điều 136 BLHS năm 1999 và Điều 171 BLHS năm 2015 các nhà lập pháp chỉ quy định tội cướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt…”. Như vậy các nhà lập pháp không mô tả cụ thể những dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh. Xung quanh khái niệm này còn có rất nhiều cách hiểu khác nhau, có quan điểm cho rằng: “tội cướp giật giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai” [42, tr.
378], hoặc “cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát” [34, tr. 148], hoặc “tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản” [49, tr. Tội cướp giật tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản của chủ thể khác và thực hiện một cách cố ý. Người thực hiện tội cướp giật tài sản phải có mục đích chiếm đoạt từ trước và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ thể sở hữu bằng cách nhanh chóng giật, giằng lấy tài sản.
Theo lý luận và thực tiễn của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì tội cướp giật tài sản là hành vi công khai nhanh chóng giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồi tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản. Trong quá trình đối tượng thực hiện hành vi phạm tội có thể phải sử dụng một 6 lực nhất định tác động nhằm chiếm đoạt tài sản nhanh chóng mà không để cho chủ sở hữu kịp phản ứng. Qua nghiên cứu, tổng hợp các khái niệm về tội cướp giật tài sản, nghiên cứu giáo trình Luật hình sự, bình luận khoa học BLHS và một số tài liệu khác, khái niệm tội cướp giật tài sản có thể được hiểu như sau: Tội cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý bằng cách công khai bất ngờ giật lấy tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội cướp giật tài sản Điều 171, kế thừa quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999, điều luật cũng không mô tả cụ thể những dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh.
Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 1. Khách thể của tội cướp giật tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Không có sự xâm hại quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm [42, tr. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Khoản 1, Điều 8 của BLHS năm 1999.
Đồng thời mỗi tội phạm đều gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho một trong những khách thể nhất định. Khách thể của tội phạm là một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Cũng như các tội phạm có tính chất chiếm đoạt trong chương các tội xâm phạm sở hữu, tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng được thực hiện một cách công khai, nhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản. Tội cướp giật tài sản trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu của người khác đối với tài sản của họ.
Do các tội trong chương XIV BLHS năm 1999 đều có chung một khách thể là quan hệ sở hữu nên khi phân biệt tội cướp giật tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, chúng ta không thể dựa vào yếu tố khách thể mà phải căn cứ vào 7 các dấu hiệu khách quan và chủ quan khác, đặc biệt là dấu hiệu hành vi khách quan. Yếu tố khách thể của tội cướp giật chỉ giúp ta xác định một hành vi nào đó có xâm phạm sở hữu hay không và phân biệt tội cướp giật tài sản với một vài tội trong nhóm tội chiếm đoạt khi hành vi đó gây nên sự xâm hại cho nhiều khách thể khác nữa như: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. vì ngoài quan hệ sở hữu, những hành vi phạm các tội này còn xâm hại đến tính mạng, sức khỏe thuộc quan hệ nhân thân. Chủ thể thực hiện tội cướp giật tài sản bao giờ cũng nhằm vào tài sản của chủ thể nhất định, không phân biệt là thuộc hình thức sở hữu nào.
Do đó, tài sản bị tội phạm nhằm tới nằm trong và là một bộ phận của khách thể cụ thể là quan hệ sở hữu. Nó chính là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, do đặc thù của tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu, quản lý một cách nhanh chóng nên tài sản là đối tượng tác động của hành vi cướp giật tài sản có những đặc điểm cơ bản khác với tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm khác. Tài sản này có thuộc tính chung với các loại tài sản khác là phải được thể hiện dưới dạng vật chất (vật, tiền, giấy tờ có giá) hoặc phi vật chất (quyền tài sản), có giá trị hoặc giá trị sử dụng, tài sản phải là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, để nhằm thoả mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người và phải thuộc về một chủ thể nhất định.
Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật dân sự Việt Nam: Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản. Tài sản là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản phải là những tài sản dưới dạng vật chất, gọn nhẹ, dễ dịch chuyển vì khi đó kẻ phạm tội mới có thể nhanh chóng chiếm đoạt, tẩu thoát khỏi sự quản lý của người đang quản lý tài sản. Tài sản mà kẻ phạm tội cướp giật tài sản nhắm tới đòi hỏi phải có đặc điểm là còn đang nằm trong sự chiếm hữu và thuộc sự quản lý của chủ tài sản. Bởi chỉ khi đó, kẻ phạm tội mới có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt khỏi sự 8 chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản.
Tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý của chủ tài sản như tài sản không để cạnh chủ tài sản hoặc tài sản không do ai quản lý…thì không còn là đối tượng của hành vi cướp giật tài sản. Hơn nữa, tài sản này phải được Nhà nước cho lưu hành và có thể chuyển dịch được giữa các chủ sở hữu, có thể mua bán trao đổi một cách hợp pháp, là tài sản hữu hình, có thực, có thể nhìn thấy, sờ thấy. Những tài sản bị nhà nước cấm lưu hành như băng đĩa hình đồi trụy, pháo nổ, ma túy. không phải là đối tượng của tội cướp giật tài sản.
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản Mặt khách quan của tội phạm là sự tổng hợp các dấu hiệu do luật hình sự quy định và các tình tiết phản ánh hành vi bên ngoài của sự xâm hại cụ thể nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được. Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của hành vi phạm tội. Đối với tội cướp giật tài sản, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm được quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999 (Điều 171 BLHS năm 2015) chính là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi chiếm đoạt là hành vi dịch chuyển tài sản đang do người khác quản lý thành tài sản của mình một cách bất hợp pháp. Về hành vi phạm tội: Hành vi cướp giật tài sản xét về bản chất là cách xử sự trái pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội [9, tr. Trong các tội xâm phạm sở hữu quy định tại chương XIV BLHS năm 1999, mỗi một tội phạm với các cấu thành tội phạm khác nhau có các dấu hiệu tội phạm được phản ánh trong mặt khách quan khác nhau. Hành vi cướp giật tài sản là hành vi của chủ thể nhất định với ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác.
Dấu hiệu chiếm đoạt trong tội cướp giật tài sản là một dấu hiệu bắt buộc dù tài sản là đối tượng của hành vi cướp giật tài sản đã bị chiếm đoạt hoàn toàn (thuộc chiếm hữu 9 của người phạm tội) hay chưa. Nghĩa là với hành vi chiếm đoạt đó, người phạm tội có thể là chưa chiếm hữu được tài sản hoặc là đã chiếm hữu được tài sản. Qua định nghĩa khoa học về tội cướp giật tài sản thì hành vi chiếm đoạt ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu đặc trưng, cơ bản bên cạnh các dấu hiệu khác ở mặt khách quan để phân biệt với những hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác: Đó là dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng. Dấu hiệu công khai: Đây là dấu hiệu có sự khác biệt tương đối với một số tội phạm khác.
Dấu hiệu này chỉ tính chất khách quan của hành vi chiếm đoạt là diễn ra một cách công khai trên thực tế với mọi người xung quanh và với cả chủ thể.