Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội buôn bán hàng cấm 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội buôn bán hàng cấm Từ trước đến nay, đấu tranh chống tội phạm được tiến hành theo phương châm: Nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, hình thành thói quen tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm. Do đó, phòng ngừa tình hình tội phạm chính là một nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lí luận về tội phạm học.
Nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tình hình tội phạm vừa là một bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học. Hơn nữa, suy cho cùng thù mục đích của ngành khoa học về tội phạm học chính là đề phòng ngừa tình hình tội phạm không để tội phạm xảy ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội [45, tr. Phòng ngừa tội phạm là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm.
Có nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm về phòng ngừa tội phạm. Theo từ điển Luật học: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do các cơ quan Nhà nước và xã hội tiến hành” [18] Theo Giáo trình Tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật…do các cơ quan, tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện 7 phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra, làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ toàn bộ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [35, tr.210] Trong khoa học về tội phạm học của Liên Xô trước đây, quan niệm về phòng ngừa tội phạm được GS. TS Nguyễn Xuân Yêm dẫn ra như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm” [51, tr. TS Võ Khánh Vinh khẳng định: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà Nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu, hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và loại bỏ dần dần tình hình tội phạm” [49, tr.154] Phòng ngừa được coi là biện pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hiệu quả nhất ở các phương diện chính trị, kinh tế và xã hội… Để đạt được mục đích loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội, Nhà nước cần quan tâm công tác phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động thường xuyên có sự đảm bảo về cơ sở vật chất cũng như các phương tiện pháp luật, giáo dục.
Phòng ngừa tình hình hình tội phạm xét cho cùng là phải làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến sự phạm tội và các biện pháp, phương pháp phòng ngừa có hiệu quả. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải thu hút tham gia rộng rãi của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các nhà hoạt động chính trị xã hội và đông đảo quần chúng lao động. Việc xây dựng chương trình phòng ngừa tình hình tội phạm cũng cần phải thực hiện trên cơ sở các đặc điểm kinh tế, tâm lý, xã hội và các đặc điểm truyền thống của từng địa phương. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam coi trọng vấn đề phòng ngừa tình hình tội phạm.
Bởi vì, bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, không ngừng đấu tranh vì công bằng và tiến bộ xã hội. Nhà nước ta đã và đang từng bước loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Trong đó, biện pháp tích cực nhất 8 được thể hiện qua việc hình thành đường lối đấu tranh phòng, chống tội phạm; thiết lập và phân định chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm cho các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội [35, tr. Tội buôn bán hàng cấm là một loại tội xâm phạm TTQLKT, có tính chất phổ biến ở nước ta hiện nay, quy định tại điều 155 của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); tại điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm) của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Buôn bán hàng cấm là hành vi xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa bị cấm. [19] Buôn bán hàng cấm, được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc giấy tờ có giá trị như tiền để trao đồi lấy hàng cấm và ngược lại. Từ khái niệm phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về phòng ngừa tình hình tội buôn bán hàng cấm như sau: Phòng ngừa tình hình tội buôn bán hàng cấm là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội như: biện pháp kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, pháp luật… nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội buôn bán hàng cấm để ngăn chặn, hạn chế và tiến tới loại bỏ tình hình tội buôn bán hàng cấm ra khỏi đời sống xã hội. Để phòng ngừa tình hình loại tội này một cách có hiệu quả cần làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội buôn bán hàng cấm này như sau: - Khách thể của tội buôn bán hàng cấm Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa bị cấm.
Đối tượng tác động của tội phạm này là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, tàng trữ, sản xuất, không cho phép lưu thông trên thị trường, như: các loại pháo nổ, đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội,… Hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh có nhiều loại, nhưng một số loại đã là đối tượng của các tội quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); quy 9 định tại các Điều 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306 và 311 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì không còn là đối tượng của tội phạm này. Việc xác định hàng cấm, phải căn cứ vào qui định của Nhà nước tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể của tình hình hình kinh tế - xã hội và chính sách của Nhà nước về quản lý kinh doanh. - Mặt khách quan của tội phạm Thể hiện ở hành vi buôn bán hàng cấm. Điều luật qui định nhiều hành vi khách quan khác nhau như: sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán (điều 155 của BLHS năm 1999); sản xuất, buôn bán (điều 190 của BLHS năm 2015).
Vì vậy, khi định tội tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người, phạm tội thực hiện hành vi nào thì định tội theo hành vi đó, mà không định hết tất cả các hành vi được liệt kê trong điều luật. Ví dụ: một người chỉ thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm thì không định tội là “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm”. Nếu một người thực hiện hành vi tàng trữ và buôn bán hàng cấm thì định tội là “Tàng trữ, buôn bán hàng cấm” (BLHS năm 1999). Buôn bán hàng cấm là hành vi mua đi bán lại hàng cấm dưới bất kỳ hình thức nào như mua bán thông thường, đổi, thanh toán công nợ bằng hàng cấm.
Không đòi hỏi phải có đầy đủ cả hai hành vi mua và bán hàng cấm mà chỉ cần có một trong hai hành vi đó người thực hiện hành vi buôn, bán cũng phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý về tội buôn bán hàng cấm.