Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÀ PHÊ 1.1 Ngành công nghiệp cà phê thế giới Cà phê là một trong những mặt hàng thương mại quan trọng nhất thế giới, hơn 70 quốc gia sản xuất và đó là phương kế kiếm sống của khoảng 25 triệu gia đình nông dân trên toàn thế giới. Rất nhiều quốc gia phụ thuộc vào cà phê, xuất khẩu cà phê không chỉ đóng góp quan trọng trong thu nhập ngoại tệ mà còn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong thuế thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu cà phê của các nước châu Phi chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 2000 – 2005, mặc dù giá cà phê sụt giảm nhưng có đến 8 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu cà phê chiếm hơn 10% trong kim ngạch xuất khẩu.1-1: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cà phê trong kim ngạch xuất khẩu (theo giá trị), giai đoạn 2000 - 2005 (Nguồn: trích từ The Coffee Guide) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Ngày nay, 2 loại cà phê được giao dịch thương mại phổ biến là cà phê Arabica (gọi ngắn gọn là Arabica) và cà phê Robusta (gọi ngắn gọn là Robusta).
Cách tiêu dùng phổ biến của cà phê là đồ uống. Đồ uống cà phê với nhiều màu sắc và hương vị khác nhau được bày bán ở khắp nơi. Doanh thu đồ uống cà phê chiếm hơn 80 tỷ USD trong doanh thu bán lẻ hàng năm1.1 Cung cầu cà phê thế giới 1.1 Cung cà phê thế giới Tổ chức Cà phê Thế giới ICO (International Coffee Organization), chia các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê thành 4 nhóm: Nhóm Cà phê Quốc gia sản xuất và xuất khẩu chính Colombia Milds Arabica Colombia, Kenya, Tanzania Others Milds Arabica Ấn Độ, Mexico, Guatemala, Costa Rica, Brazilian Arabica Brazil, Etôpia Naturals Robustas Robusta Việt Nam, Indonesia, Uganda, Côte d’Ivoire Xét về giá trị, cà phê nhóm “Colombia Milds” có giá trị cao nhất, trong nhóm này cà phê xuất khẩu từ Kenya có giá cao hơn cả. “Others Milds” là nhóm có giá trị cao thứ hai, trong đó cà phê từ Costa Rica và Guatemala có giá trị cao nhất.
“Brazilian Natuarals” xếp thứ 3 và “Robustas” có giá trị thấp nhất. Xét về sản lượng, Brazil luôn đứng đầu danh sách các nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới với thị phần khoảng 36%. Colombia cũng luôn đứng thứ hai trong danh sách này trong một thời kỳ dài, tuy nhiên từ năm 2000 đến nay, vị trí này đã thuộc về Việt Nam. 1 Trích từ: The Coffee Guide và ICO TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1-1: Thị phần các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê chính năm 2006 Cote d'Ivoire Colom bia Uganada 2% 10% Khác 2% 15% Indonesia Kenya 6% 1% Việt Nam 13% Tanzania 1% Ê topia Ấn độ 4% 4% Brazil Mexic o Costa Ric a 35% Guatem ala 3% 1% 3% (Nguồn: ICO) 1.2 Cầu cà phê thế giới Mặc dù cà phê được trồng ở các nước đang phát triển nhưng hầu hết các nước tiêu dùng cà phê là các nước công nghiệp.
Những thị trường tiêu dùng cà phê lớn là EU, Mỹ và Nhật Bản. Thị trường EU tiêu dùng trên 2triệu tấn/năm, chiếm khoảng 35% tổng cầu về cà phê trên thế giới; Mỹ chiếm khoảng 17% và Nhật là trên 6% tổng cầu.2-1: Tiêu dùng cà phê thế giới năm 2006 EU Khác 33% 44% Nhật Mỹ 6% 17% (Nguồn: ICO) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Độ co giãn theo giá của cung – cầu cà phê thế giới - Độ co giãn theo giá của cung cà phê: thấp trong ngắn hạn và tăng lên trong dài hạn, do thời gian để cây cà phê mới trồng có thể thu hoạch là 2 năm và mất thêm một vài năm nữa cho đến khi cây cà phê đó đạt hiệu suất tối đa. - Độ co giãn theo giá của cầu cà phê: tương đối thấp cả trong ngắn hạn và dài hạn, vì nhu cầu tiêu dùng cà phê tương đối ổn định và mức tăng trưởng chậm (ước tính khoảng 1. Thị trường cà phê là dạng thị trường “già” (đạt ngưỡng phát triển tối đa).2-1: Độ co giãn theo giá của cung – cầu cà phê thế giới Cung co gi·n vµ Ýt co gi·n CÇu co gi·n vµ Ýt co gi·n P §êng cung Ýt co gi·n P §êng cung co gi·n §êng cÇu co gi·n §êng ccÇu Ýt co gi·n Q Q Đối với cung, cùng một lượng tăng giá thì đường cung ít co giãn sẽ tăng sản lượng ít hơn đường cung co giãn nhiều hơn.
Đối với cầu, đường cầu ít co giãn sẽ giảm sản lượng ít hơn đường cầu co giãn nhiều hơn2. Chính vì tính co giãn theo giá của cung - cầu cà phê thấp trong ngắn hạn, giá cà phê trên thị trường thế giới thường xuyên biến động. Có thể xảy ra tình trạng thiếu nguồn cung cà phê làm tăng giá nhưng lượng tiêu thụ vẫn 2 Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, NXB Thống kê, 1999, trang 288 [4] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 không đổi. Tương tự, lượng cung cà phê cũng không thể tăng vọt trong ngắn hạn khi xuất hiện nhà máy chế biến cà phê mới.
Tuy nhiên, trong dài hạn, những phản ứng với những biến động cung cầu trong ngắn hạn có thể vượt quá mức cần thiết. Tình trạng thiếu nguồn cung có thể không được đáp ứng cho đến khi những cây cà phê mới trồng đủ lớn để khai thác, nhưng đến lúc này, thị trường có thể phát sinh tình trạng thừa cung và sụt giá.3 Phân tích biến động giá trên thị trường cà phê thế giới Biểu đồ 1.3-1: Biến động giá cà phê từ 1980 đến 2006 140,000 180 160 120,000 140 100,000 120 80,000 túi 60 Kg 100 US cents/LB 60,000 80 60 40,000 40 20,000 20 - - Sản lượng Giá (Nguồn: ICO) Tính toán với số liệu giá bình quân qua các năm từ 1980 – 2006 (phụ lục 1) cho thấy: giá bình quân năm biến động trong khoảng 45.90 UScents/lb với độ lệch chuẩn của tháng biến động trong khoảng 1.Trong cả giai đoạn 1980 – 2006, giá bình quân 99.75 UScents/lb với độ lệch chuẩn 34. Đây là mức biến động quá lớn. Nguyên nhân chính biến động giá là do cú sốc về cung.
Giá cung cà phê phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan (như thời tiết, sâu bệnh…) và chủ quan (như chính sách can thiệp vào thị trường của chính phủ, chính sách của ICO…). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Năm 1986, hạn hán ở Brazil đã làm sản lượng của Brazil giảm sút đột ngột đẩy giá thị trường lên cao. Bốn năm sau đó, giá cà phê trở lại mức thấp, cung tăng trở lại, trong khi cầu tăng chậm hơn. Đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, nền kinh tế thế giới có nhiều thay đổi, tạo thêm nhiều yếu tố mới góp phần làm tăng tính bất ổn của thị trường cà phê thế giới: ICO dỡ bỏ hạn ngạch xuất khẩu; sự sụp đổ khối kinh tế Đông Âu cũ; xu hướng tự do hóa thị trường ở nhiều nền kinh tế… Năm 1994, đợt sương muối của Brazil lần nữa đã làm cung thế giới giảm sút đột ngột và giá tăng cao.
Giá tăng khuyến khích người trồng cà phê ở các nước mở rộng diện tích trồng. Sản lượng cà phê trên thế giới tăng từ 94 triệu bao năm 1990 lên 122 triệu bao năm 2002, bình quân tăng 4%/năm. Lượng tăng này chủ yếu ở Brazil và Việt Nam. Trong khi đó, tổng tiêu dùng toàn cầu chỉ tăng bình quân khoảng 1.5%/năm, từ 94 triệu bao năm 1990 lên 109 triệu bao năm 2001.
Sản xuất đã vượt tiêu dùng trong 5 năm qua là nguyên nhân làm giảm giá cà phê thế giới và khủng hoảng. Lượng dự trữ đã tăng 10 triệu bao năm 1997 tới khoảng 70 triệu bao năm 2003. Sau đó, sản lượng Brazil tăng trưởng trở lại và sản lượng tăng đột biến của Việt Nam trong nhưng năm cuối thập kỷ 90 đã làm cung dư thừa và giảm kim ngạch xuất khẩu của các nước sản xuất cà phê. Thị trường cà phê rơi vào khủng hoảng tồi tệ nhất từ thập kỷ 60, thế kỷ XX.
Giá cà phê trên thị trường giảm xuống dưới mức giá thành sản xuất đã làm cho ngành cà phê nói chung và người trồng cà phê nói riêng chịu thiệt hại nặng nề. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3-2: Cung cầu cà phê thế giới từ 1990 - 2005 (Nguồn: ICO) Biểu đồ 1.3-3: Tồn kho và giá cà phê thế giới từ 1990 - 2005 60,000 160 140 50,000 120 40,000 túi 60 Kg 100 US Cents/LB 30,000 80 60 20,000 40 10,000 20 - - Tồn kho Giá (Nguồn: ICO) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Phân khúc thị trường cà phê thế giới Thị trường cà phê thế giới được phân thành nhiều phân khúc khác nhau. Phân khúc trên của thị trường có tính cạnh tranh thấp hơn do dựa trên độc quyền mua của các công ty đa quốc gia, hàng rào thuế và phi thuế quan áp dụng ở các nước phát triển. Phân khúc dưới của thị trường có tính cạnh tranh cao do việc dễ dàng gia nhập, tháo lui của các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ sản phẩm cà phê.
Các nước xuất khẩu cà phê chủ yếu nằm trong phân khúc dưới, thị trường có tính cạnh tranh cao, giá cả diễn biến thất thường. Do đó, một biến động nhỏ của giá cà phê thế giới sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới các nước xuất khẩu cà phê.4-1: Kênh tiêu thụ cà phê thế giới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Ngành công nghiệp cà phê Việt Nam Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ những năm 1850. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất được thực hiện manh mún và thiếu tổ chức cho đến năm 1986, khi công cuộc đổi mới được tiến hành, cây cà phê mới được đưa vào quy hoạch và tổ chức sản xuất quy mô lớn, tập trung. Đến năm 1988, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 4 trên thế giới (chiếm 6,5% sản lượng thế giới), đứng sau Brazil, Colombia, ngang bằng với Indonesia.
Tuy nhiên, cà phê do Việt Nam và Indonesia sản xuất chủ yếu là Robusta có giá trị thấp hơn Arabica của Brazil và Colombia nên Việt Nam và Indonesia chỉ chiếm 3,4-4% giá trị xuất khẩu toàn thế giới trong khi Brazil và Colombia là 21% và 17%. Đến năm 1999, hoạt động xuất khẩu cà phê còn giới hạn cho doanh nghiệp nhà nước. Sau thời điểm này, các doanh nghiệp khối tư nhân được phép tham gia vào thị trường cà phê xuất khẩu. Gần 92% sản lượng cà phê Việt Nam được xuất ra thị trường nước ngoài.
Khoảng 85-90% diện tích cà phê hiện do các hộ nông dân nhỏ lẻ khai thác, khoảng 10-15% còn lại do các nông trường nhà nước khai thác. Trong thời gian khủng hoảng cà phê (2000-2004), giá cà phê sụt giảm mạnh đã làm người nông dân trồng cà phê sụt giảm trầm trọng.