PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia có truyền thống tre già măng mọc. Trẻ em là thế hệ kế tiếp, có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của đất nƣớc. Để có một đất nƣớc phát triển toàn diện thì cần những thế hệ trẻ có đầy đủ các kiến thức, kỹ năng, tay nghề và có chuyên môn cao trong công việc.
Tuy vậy để có đƣợc những thế hệ thanh niên ƣu tú, trƣớc hết từ khi còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc cần thiết của gia đình và xã hội về các nhu cầu thiết yếu nhƣ nhu cầu đƣợc sống, đƣợc chăm sóc và đƣợc bảo vệ. Trên thế giới, Công ƣớc về Quyền trẻ em (CRC) đƣợc ban hành ngày 20/11/1989, mang những ý nghĩa sâu sắc rằng trẻ em không chỉ là một con ngƣời bé nhỏ thuộc về cha mẹ hoặc thuộc về ngƣời lớn trong quá trình trƣởng thành. Hơn hết, các em là con ngƣời, là cá nhân với những quyền của riêng mình. Công ƣớc quy định tuổi thơ là thời kỳ đặc biệt, khác với giai đoạn trƣởng thành của con ngƣời và giai đoạn này kéo dài đến 18 tuổi.
Trong thời kỳ đặc biệt này, trẻ em cần đƣợc bảo vệ, đƣợc chăm sóc để lớn lên, đƣợc học tập, vui chơi để phát triển hết tiềm năng của mình. Công ƣớc yêu cầu phải đảm bảo cho tất cả trẻ em không bị phân biệt đối xử dƣới bất kỳ dƣới hình thức nào. Đƣợc hƣởng các dịch vụ xã hội, đƣợc bảo vệ, đƣợc lớn lên trong môi trƣờng an toàn, vệ sinh, hỗ trợ, chăm sóc và lắng nghe, cũng nhƣ tham gia vào các hoạt động xã hội. Việt nam là quốc gia đầu tiên tại Châu Á, và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ƣớc quyền trẻ em (CRC) vào ngày 20 tháng 2 năm 1990.
Trong đó có các đạo luật liên quan đến quyền trẻ em nhƣ: Luật lao động, luật dân sự, luật hình sự, luật bảo vệ và phòng chống bạo lực trẻ em. Theo đó thì trẻ em đƣợc coi là những công dân đặc biệt, đƣợc nhà nƣớc và xã hội chăm sóc, tạo môi trƣờng để phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Tuy nhiên hiện nay, tình trạng lạm dụng trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng đang tồn tại nhiều hạn chế, gây bức xúc với dƣ luận trong thời gian dài. Sự việc xảy ra tại nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc, gây hậu quả đối với các đối tƣợng liên quan, bao gồm: Nạn nhân của hành vi xâm hại tình dục, ngƣời xâm hại, gia đình của ngƣời xâm hại, gia đình của ngƣời bị xâm hại.
1 Trong đó ngƣời chịu hậu quả nặng nhất chính là trẻ em, một trong số nhóm đối tƣợng bị xâm hại. Theo báo bảo vệ pháp luật: Trong phiên họp với Đoàn công tác số 1 của Đoàn Giám sát Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”, Phó Cục trƣởng Cục Trẻ em, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, bà Vũ Thị Kim Hoa cho biết: Tính 4 năm (2015 - 2018) và 6 tháng đầu năm 2019, toàn quốc xảy ra 7829 vụ xâm hại trẻ em, với 7767 trẻ em bị xâm hại. Tại Hà Nội, từ năm 2015 đến hết tháng 6/2019 có 365 vụ xâm hại trẻ em với 313 trẻ em bị xâm hại, trong đó, xâm hại tình dục 199 vụ (chiếm 54,5%) với 220 trẻ. Những hậu quả mà xâm hại tình dục trẻ em gây ảnh hƣởng đến thể chất và tinh thần.
Trẻ có tâm lý lo lắng, hoang mang, ám ảnh, luôn sợ hãi, đề phòng những ngƣời xung quanh mình, nhiều em có những hành động nhƣ tự hành hạ, tự làm bị thƣơng bản thân, hoặc nguy hiểm nhất các em có thể tự tử. Một số em khác lại học tập theo và có những hành động xâm hại những trẻ em khác, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đối với xã hội. Theo công an Cao Bằng, trong 6 tháng đầu năm 2017 có 256 vụ phạm pháp hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm, có 8 vụ hiếp dâm, trong đó 6 vụ hiếp dâm trẻ em, xảy ra ở các huyện: Hạ Lang, Bảo Lạc, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và Thành phố Cao Bằng. Xã Đức Xuân mà một xã miền núi của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, đời sống của ngƣời dân còn khó khăn, dẫn đến nhận thức của ngƣời dân về vấn đề lạm dụng trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng còn chƣa tốt.
Công tác xã hội là một ngành khoa học với mục đích giúp đỡ những đối tƣợng yếu thế trong xã hội, để bản thân họ có thể tự vƣợt qua những vấn đề của chính mình, trẻ em là một trong số những đối tƣợng yếu thế và cần đƣợc bảo vệ một cách đầy đủ nhất. Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Công tác xã hội trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân)”. Thông qua quá trình nghiên cứu, có thể trang bị thêm cho học sinh kiến thức và kỹ năng phòng chống để các em có thể tự bảo vệ chính bản thân mình khỏi những nguy cơ trở thành nạn nhân của các hành vi xâm hại tình dục. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 2.
Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu Đây là công trình nghiên cứu khoa học về Công tác xã hội trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về nguyên nhân, thực trạng nhận thức và kỹ năng của học sinh đối với đề xâm hại tình dục trẻ em từ đó đƣa ra những phƣơng pháp giải quyết phù hợp với tình hình thực tiễn tại trƣờng. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Đƣa ra một số biện pháp,giúp các em học sinh có thể nâng cao nhận thức và kĩ năng trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ. Đề tài giúp cho phụ huynh học sinh và nhà trƣờng biết đƣợc một cách chân thực và khách quan về mức độ hiểu biết của học sinh về xâm hại tình dục trẻ em, từ đó có đƣợc những giải pháp để dạy dỗ, nâng cao kiến thức của con, em mình.
Đối với sinh viên, sau khi nghiên cứu giúp sinh viên mở rộng kiến thức và kỹ năng về nghiên cứu khoa học và về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em. Mục tiêu nghiên cứu 3. Mục tiêu tổng quát Khảo sát thực trạng về nhận thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Từ đó đƣa ra vai trò của công tác xã hội đối với việc nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng của học sinh về phòng chống xâm hại tình dục trẻ.
Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa những vẫn đề cơ bản dựa trên cơ sở lý luận có sẵn của việc phòng chống xâm hại tình dục trẻ em. Trực tiếp nghiên cứu, tìm hiểu thông tin, đƣa ra số liệu về thực trạng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Đƣa ra giải pháp của công tác xã hội về nâng cao nhận thức và kỹ năng 3 trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em đối với học sinh tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Nội dung nghiên cứu Điều tra về nhận thức và các kỹ năng hiện có của học sinh về phòng chống xâm hại tình dục tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân.
Tìm giải pháp để nâng cao kiến thức và trang bị kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5. Đối tượng nghiên cứu Công tác xã hội với vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Khách thể nghiên cứu Học sinh Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Phạm vi thời gian: Từ ngày 10 tháng 2 năm 2020 đến ngày 03 tháng 5 năm 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp khác nhau bao gồm: 6. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phƣơng pháp này sử dụng những tài liệu có sẵn, liên quan đến nội dung nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khung nghiên cứu, góp phần bổ sung làm rõ những nội dung nghiên cứu của đề tài. Phân tích các văn bản chính sách, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.
Các báo cáo tổng kết, hội thảo, hội nghị về vấn đề liên quan đến đề tài.2 Phương pháp phỏng vấn sâu Đây là phƣơng pháp định tính, tiến hành phỏng vấn sâu 20 khách thể là học sinh tại Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân bao gồm 10 học sinh nữ và 10 học sinh nam từ lớp 1 đến lớp 5 với nội dung là: Những nhận thức và các kỹ năng của học sinh về xâm hại tình dục trẻ em, để biết đƣợc những suy nghĩ, nhận thức và kỹ năng mà các em đang có. Từ đó có thể đƣa ra số liệu cụ thể về vấn đề nghiên cứu. Tên của ngƣời phỏng vấn sẽ đƣợc mã hóa để bảo vệ tính bảo mật thông tin. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Trong quá trình thực hiện đề tài, sử dụng bảng hỏi để tìm hiểu thông tin, ý kiến của của học sinh đối với việc phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, thông qua các câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi mở liên quan đến những hiểu biết về xâm hại tình dục trẻ em để từ đó có đƣợc các số liệu về thực trạng hiểu biết của học sinh.
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi với cỡ mẫu 62 mẫu, nghiên cứu đối với học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 Trƣờng Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện thạch An, tỉnh Cao Bằng. Phương pháp sử lý số liệu Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý thông tin thu thập đƣợc từ cuộc khảo sát, để từ đó có đƣợc kết quả chính xác về sự hiểu biết của học sinh về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em. Kết cấu của khóa luận Chƣơng 1.