Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Công tác xã hội trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân" được thực hiện bởi sinh viên Đinh Vĩnh Hào, ngành Công tác xã hội, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm Nghiệp (năm 2020), dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Kiều Trang.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả xuất phát từ khung pháp lý quốc tế và trong nước: Công ước về Quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989; Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước này vào ngày 20/02/1990. Dù hệ thống pháp luật (Luật Trẻ em, Bộ luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Lao động) đã xác lập các quy định bảo vệ trẻ em, thực trạng xâm hại tình dục trẻ em trên thực tế vẫn diễn biến phức tạp. Tác giả dẫn chứng báo cáo của Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): trong giai đoạn 2015 - 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, toàn quốc ghi nhận 7.829 vụ xâm hại trẻ em với 7.767 nạn nhân; riêng tại Hà Nội từ năm 2015 đến tháng 6/2019 có 365 vụ xâm hại trẻ em (313 nạn nhân), trong đó xâm hại tình dục chiếm 199 vụ (tỷ lệ 54,5%) với 220 trẻ. Tại địa bàn tỉnh Cao Bằng, số liệu Công an tỉnh cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2017 xảy ra 256 vụ phạm pháp hình sự, trong đó có 8 vụ hiếp dâm thì có đến 6 vụ là hiếp dâm trẻ em tại các huyện Hạ Lang, Bảo Lạc, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và thành phố Cao Bằng.

Tại xã Đức Xuân (huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) - một địa bàn miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đời sống người dân còn nhiều hạn chế, dẫn đến nhận thức về phòng ngừa lạm dụng và xâm hại tình dục trẻ em chưa đồng đều. Nhận thức được trẻ em là nhóm yếu thế cần sự can thiệp của khoa học công tác xã hội để nâng cao năng lực tự bảo vệ, tác giả xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Khảo sát thực trạng nhận thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục của học sinh Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân (huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng); từ đó xác định vai trò và đề xuất giải pháp công tác xã hội nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kỹ năng phòng vệ cho học sinh.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận của hoạt động phòng chống xâm hại tình dục trẻ em dưới góc độ công tác xã hội.
    2. Khảo sát trực tiếp, thu thập dữ liệu và phân tích thực trạng nhận thức, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục của học sinh tại trường nghiên cứu.
    3. Đề xuất các giải pháp công tác xã hội can thiệp nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội với vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi không gian: Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân, xã Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 10/02/2020 đến ngày 03/05/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành

Nghiên cứu vận dụng hệ thống khái niệm chuyên ngành từ các nguồn học thuật và văn bản pháp luật:

  • Công tác xã hội: Tác giả tổng hợp định nghĩa từ Từ điển Bách khoa ngành Công tác xã hội (1995), Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế (NASW), định nghĩa Montreal (2004), quan điểm của Nguyễn Thị Oanh, và giáo trình Nhập môn công tác xã hội của Bùi Thị Xuân Mai (xác định công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp trợ giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng nâng cao chức năng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội).
  • Khái niệm "Phòng" và "Chống": Dựa trên Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2003).
  • Trẻ em: Đối chiếu giữa Điều 1 Công ước CRC (dưới 18 tuổi) và Điều 1 Luật Trẻ em 2016 của Việt Nam (người dưới 16 tuổi).
  • Xâm hại tình dục trẻ em: Dẫn chiếu Khoản 8 Điều 4 Luật Trẻ em 2016 và hệ thống hóa khung hình phạt cho các tội danh tương ứng trong Bộ luật Hình sự năm 2015:
    • Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142);
    • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144);
    • Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145);
    • Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146);
    • Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147).
  • Dấu hiệu nhận biết trẻ bị xâm hại: Tác giả hệ thống hóa nhóm dấu hiệu pháp y (tổn thương cơ học vùng kín, bệnh lây truyền qua đường tình dục, thai nghén, đau bụng mãn tính...) và dấu hiệu tâm lý (trầm cảm, hoảng loạn, sợ người khác giới, tắm quá lâu do mặc cảm dơ bẩn, rối loạn giấc ngủ, hành vi gây hấn hoặc tự hủy hoại).

Về lý thuyết ứng dụng, tác giả sử dụng hai khung lý thuyết nền tảng:

  1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943, bổ sung 1970a, 1970b): Khóa luận phân tích 5 bậc nhu cầu cơ bản (sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng, tự thể hiện) và mở rộng 8 bậc. Tác giả định vị nhu cầu được bảo vệ khỏi xâm hại tình dục thuộc bậc nhu cầu an toàn (bậc 2). Khi nhu cầu an toàn chưa được đảm bảo, trẻ rơi vào trạng thái sợ hãi, căng thẳng, ngăn cản hoạt động nhận thức và học tập.
  2. Thuyết hành vi (J. Watson, B.F. Skinner, E. Tolman, A. Bandura): Khóa luận vận dụng mô hình kích thích - phản ứng ($S \rightarrow R \rightarrow B$) và nguyên lý củng cố hành vi của Skinner để giải thích cơ chế hình thành hành vi phòng vệ hoặc học tập hành vi lệch chuẩn ở trẻ khi tiếp xúc với các kích thích tiêu cực; từ đó đề xuất các can thiệp nhằm định hình phản xạ tự vệ tích cực.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đó của Nguyễn Minh Hương, Lưu Hải Yến, Phan Thị Tâm, Huỳnh Thị Bích Phụng, Đinh Thị Nga, Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Hải Lý, và đặc biệt là công trình năm 2014 của Nguyễn Thị Đào về vai trò của công tác xã hội trong phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Tiến hành phỏng vấn 20 học sinh cấp tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5, gồm 10 nam và 10 nữ) tại Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân nhằm tìm hiểu chiều sâu suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức sơ khởi. Tên khách thể được mã hóa để bảo đảm đạo đức nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng): Thực hiện khảo sát bằng phiếu an-két với cỡ mẫu $N = 62$ học sinh khối THCS (từ lớp 6 đến lớp 9) tại Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở khái niệm và pháp lý về công tác xã hội, quyền trẻ em và các hành vi xâm hại tình dục. Tác giả phân tích chi tiết các quy định định tội danh và khung hình phạt theo Bộ luật Hình sự 2015 nhằm làm rõ ranh giới pháp lý của các hành vi bạo hành tình dục trẻ em. Đồng thời, chương này phân tích các dấu hiệu nhận diện lâm sàng và hành vi ở trẻ bị xâm hại làm căn cứ thực hành cho nhân viên xã hội; luận giải cách thức vận dụng thuyết tháp nhu cầu Maslow và thuyết hành vi vào việc giải thích thực trạng và xây dựng mô hình can thiệp xã hội học đường. Phần tổng quan tài liệu làm rõ khoảng trống nghiên cứu tại các trường học vùng cao, dân tộc thiểu số.

Chương 2: Thực trạng về kiến thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em của học sinh Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân

Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân được thành lập năm 2019 theo Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 28/6/2019 của UBND huyện Thạch An trên cơ sở sáp nhập trường tiểu học và trường THCS của xã Đức Xuân. Trường đóng tại thôn Pác Khoang; năm học 2019 - 2020 trường có 184 học sinh chia làm 11 lớp (tiểu học: 120 học sinh/7 lớp; THCS: 65 học sinh/4 lớp), 2 cán bộ quản lý và 20 cán bộ giáo viên (100% đạt chuẩn, 83,3% có trình độ cao đẳng, đại học). Thực trạng cho thấy trường chưa có phòng công tác xã hội học đường; dù có 2 giáo viên có chuyên môn giáo dục giới tính nhưng chưa từng tổ chức các buổi tư vấn, hướng dẫn chuyên đề cho học sinh.

Dữ liệu khảo sát định lượng ($N = 62$) và phỏng vấn sâu ($N = 20$) phản ánh thực trạng nhận thức và kỹ năng của học sinh qua các bảng số liệu cụ thể:

Bảng 1: Tổng hợp thực trạng nhận thức của học sinh khối THCS ($N = 62$)

Tiêu chí khảo sát Phân loại câu trả lời Số lượng (Tần số) Tỷ lệ (%)
Nhận thức về các hành vi xâm hại tình dục Nhận diện đúng cả 5 hành vi luật định (A, B, C, D, E) 30 48,4%
Nhận diện đúng 4 hành vi (A, B, C, E) 12 19,3%
Chỉ nhận diện đúng 1 hành vi đơn lẻ (20% đáp án) 19 32,3%
Khác 1 1,6%
Nhận thức về các bộ phận riêng tư Nhận diện đúng cả 4 vùng (ngực, mông, bộ phận sinh dục, hậu môn) 18 29,0%
Nhận diện đúng 3 vùng 12 21,0%
Nhận diện đúng 2 vùng 12 17,7%
Chỉ chọn bộ phận sinh dục (đúng 25%) 12 (bảng) / 20 (văn bản) 19,4% / 32,2%
Nhận thức về độ tuổi có thể bị xâm hại Nhận thức đúng mọi lứa tuổi (dưới 5 tuổi; 5-10 tuổi; 11-16 tuổi) 10 16,1%
Cho rằng từ 5 đến 16 tuổi mới bị xâm hại 25 40,3%
Chỉ chọn lứa tuổi 11 - 16 tuổi 21 33,9%
Chỉ chọn lứa tuổi 5 - 10 tuổi 6 9,7%
Nhận thức về đối tượng bị xâm hại theo giới tính Cho rằng chỉ có con gái bị xâm hại 35 56,5%
Nhận thức đúng cả nam và nữ đều có nguy cơ 25 40,3%
Cho rằng chỉ có con trai bị xâm hại 2 3,2%
Nhận thức về đối tượng thực hiện hành vi Chọn đúng cả 5 nhóm đối tượng (người lạ đến người thân quen) 22 35,5%
Nhận diện được 4 nhóm đối tượng 7 11,3%
Nhận diện được 3 nhóm đối tượng 8 12,9%
Nhận diện được 2 nhóm đối tượng 8 12,9%
Chỉ cho rằng thủ phạm là người lạ 10 11,3% (16,1%)
Chỉ chọn hàng xóm, bạn bè của bố mẹ 5 8,1%

Bảng 2: Mức độ quan tâm và sự tiếp cận giáo dục phòng ngừa tại trường ($N = 62$)

Nội dung khảo sát Trả lời: Có (Tần số / %) Trả lời: Không (Tần số / %)
Học sinh tự quan tâm đến vấn đề xâm hại tình dục 9 học sinh (14,5%) 53 học sinh (85,5%)
Thầy cô giáo từng hướng dẫn kiến thức về xâm hại 6 học sinh (9,7%) 56 học sinh (90,3%)
Nhà trường từng tổ chức buổi ngoại khóa về chủ đề này 0 học sinh (0,0%) 62 học sinh (100,0%)

Bảng 3: Thực trạng kỹ năng xử lý tình huống nguy cơ của học sinh ($N = 62$)

Tình huống giả định Hành động của học sinh Số lượng Tỷ lệ (%)
Bị người khác đụng chạm vào bộ phận riêng tư Chạy đi báo cho người lớn 31 50,0%
Hét to lên rồi chạy đi báo người lớn 18 29,0%
Chỉ la hét lên tại chỗ 8 12,9%
Chỉ biết khóc vì sợ hãi 4 6,5%
Hành vi khác ("mắng cho người đấy") 1 1,6%
Khi có người lạ rủ/đón về nhà Gọi điện thoại hỏi ý kiến bố mẹ 21 33,9%
Kết hợp không về cùng và gọi điện thoại cho bố mẹ 17 27,5%
Dứt khoát không về cùng 18 22,6%
Đồng ý đi về cùng người lạ 4 6,6%
Phương án khác (tự đi bộ về nhà) 2 9,7% (3,2%)
Có cho người khác chụp ảnh bộ phận riêng tư? Trả lời: Không 62 100,0%
Trả lời: Có 0 0,0%
Có được chạm vào bộ phận riêng tư người khác? Trả lời: Không 62 100,0%
Trả lời: Có 0 0,0%

Qua phân tích định tính từ phỏng vấn sâu 20 học sinh tiểu học, tác giả chỉ ra các khoảng trống nhận thức: học sinh cho rằng người thân ôm hôn, động chạm vùng nhạy cảm chỉ là thể hiện tình cảm; ngực không phải bộ phận riêng tư vì nam giới thường cởi trần; trẻ dưới 5 tuổi không thể bị xâm hại; và người lạ mới là đối tượng xâm hại duy nhất. Về nguyên nhân, tác giả phân tích từ 4 phía: nhận thức và tư duy của học sinh còn non nớt và thiếu tiếp cận truyền thông; phụ huynh vùng cao thiếu kiến thức nên không giáo dục con thấu đáo; nhà trường chưa đưa nội dung vào giảng dạy; và các cơ quan chức năng (công an, y tế, đoàn thể) chưa phối hợp tổ chức truyền thông chuyên đề.

Chương 3: Giải pháp trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng của học sinh về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đức Xuân

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp công tác xã hội can thiệp đa diện:

  • Thực hiện các hoạt động tuyên truyền: Tăng cường tuyên truyền trực quan, phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng phòng ngừa phù hợp lứa tuổi học sinh dân tộc thiểu số.
  • Phía nhà trường: Đưa nội dung phòng chống xâm hại vào kế hoạch năm học; nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên có chuyên môn giới tính.
  • Lồng ghép kiến thức và kỹ năng vào môn học chính khóa: Tích hợp nội dung nhận diện ranh giới cơ thể, các hành vi bị cấm vào các môn học như Sinh học, Giáo dục công dân, Tự nhiên và Xã hội.
  • Tổ chức các cuộc thi chuyên đề: Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền qua thi vẽ tranh, kể chuyện, tiểu phẩm sân khấu hóa để học sinh dễ tiếp thu.
  • Thành lập câu lạc bộ phòng chống xâm hại tình dục: Tạo không gian sinh hoạt ngoại khóa lành mạnh, nơi học sinh trao đổi, chia sẻ và rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ.
  • Mở các lớp học võ, câu lạc bộ võ thuật tại địa phương: Trang bị thể lực và kỹ năng tự vệ cơ bản giúp học sinh thoát thân khi đối mặt tình huống bị tấn công hoặc cưỡng ép.
  • Xây dựng phòng công tác xã hội trường học: Thành lập phòng tư vấn tâm lý - xã hội chuyên trách với nhân viên công tác xã hội đóng vai trò tham vấn, can thiệp khủng hoảng, kết nối gia đình - nhà trường - xã hội, bảo vệ an toàn cho học sinh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về nhận thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục của học sinh tại một trường phổ thông miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng với các con số cụ thể:

  • Nhận thức của học sinh còn phiến diện: Tỷ lệ học sinh THCS hiểu đầy đủ các hành vi xâm hại tình dục theo luật chỉ đạt 48,4%; chỉ 29,0% nhận diện đúng cả 4 vùng riêng tư trên cơ thể; chỉ 16,1% biết rằng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn có nguy cơ bị xâm hại; có đến 56,5% học sinh ngộ nhận rằng chỉ có con gái mới là đối tượng bị xâm hại; và chỉ 35,5% ý thức được kẻ xâm hại có thể là người quen hoặc người thân trong gia đình.
  • Tồn tại khoảng trống giáo dục học đường: 85,5% học sinh không chủ động quan tâm đến chủ đề này; 90,3% học sinh cho biết thầy cô chưa từng hướng dẫn kiến thức phòng ngừa; và 100% học sinh xác nhận trường chưa từng tổ chức buổi sinh hoạt ngoại khóa nào về phòng chống xâm hại tình dục.
  • Về kỹ năng thực hành: Dù 100% học sinh từ chối việc cho chụp ảnh vùng kín hoặc chạm vào vùng kín người khác, vẫn còn 6,5% học sinh chỉ biết khóc khi bị đụng chạm thân thể và 6,6% học sinh sẵn sàng đi theo người lạ về nhà khi được rủ rê.

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Khóa luận đã đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng ngành công tác xã hội:

  1. Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông cộng đồng và học đường;
  2. Tăng cường trách nhiệm quản lý và định hướng của ban giám hiệu nhà trường;
  3. Tích hợp giáo dục giới tính và quyền trẻ em vào các môn học chính khóa;
  4. Tổ chức các hội thi tìm hiểu kiến thức thông qua hình thức sân khấu hóa;
  5. Thành lập câu lạc bộ học sinh chuyên đề phòng chống xâm hại tình dục;
  6. Mở lớp tập huấn võ thuật tự vệ tại địa phương nhằm rèn luyện phản xạ thể chất;
  7. Thành lập phòng công tác xã hội học đường nhằm cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý, đánh giá nguy cơ và hỗ trợ bảo vệ trẻ em kịp thời.

Đóng góp của đề tài

Theo tác giả tự xác định:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về vai trò của công tác xã hội trong trường học đối với vấn đề bảo vệ trẻ em trước nguy cơ xâm hại tình dục; cụ thể hóa việc ứng dụng thuyết nhu cầu Maslow và thuyết hành vi vào phân tích tâm lý, nhận thức của học sinh phổ thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng phản ánh khách quan mức độ hiểu biết và kỹ năng tự vệ của học sinh Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân; giúp phụ huynh, nhà trường và chính quyền địa phương thấy rõ các lỗ hổng giáo dục giới tính hiện nay để xây dựng giải pháp phối hợp bảo vệ trẻ em hiệu quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu mà tác giả ghi nhận:

  • Hạn chế về phạm vi và mẫu khảo sát: Nghiên cứu thực hiện trong thời gian ngắn (từ 10/02/2020 đến 03/05/2020) tại một địa bàn trường liên cấp duy nhất ở vùng sâu (Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng). Cỡ mẫu định lượng còn hạn chế ($N = 62$ học sinh THCS) và mẫu phỏng vấn sâu dừng lại ở 20 học sinh tiểu học, chưa mở rộng khảo sát đối với cha mẹ học sinh, giáo viên hay chính quyền địa phương. Tác giả tự nhận bản thân còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu khoa học thực địa nên chưa bao quát hết các yếu tố văn hóa tộc người tác động đến nhận thức của trẻ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn và quy mô mẫu khảo sát sang các trường phổ thông khác trên địa bàn toàn huyện Thạch An và tỉnh Cao Bằng; thực hiện khảo sát đa chiều đối với phụ huynh và cán bộ giáo viên; triển khai thử nghiệm mô hình can thiệp thực tế của nhân viên công tác xã hội học đường và đánh giá hiệu quả sau can thiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực:

  • Đối tượng thụ hưởng tài liệu: Sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học giáo dục và Sư phạm tiểu học/THCS; các cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại các tổ chức phi chính phủ, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương; ban giám hiệu và giáo viên các trường phổ thông tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Hệ thống câu hỏi phỏng vấn sâu và bảng hỏi an-két điều tra thực trạng nhận thức, kỹ năng phòng vệ của trẻ em trước hành vi xâm hại tình dục.
    • Bộ số liệu thực nghiệm chi tiết về những nhận thức sai lệch phổ biến của học sinh vùng cao (quan niệm về vùng riêng tư, giới tính nạn nhân, nhận diện thủ phạm).
    • Khung đề xuất thành lập phòng công tác xã hội trong trường học liên cấp tại địa bàn còn khó khăn về kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ học sinh nhận thức đầy đủ tất cả các hành vi xâm hại tình dục theo quy định của pháp luật đạt bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát bằng bảng hỏi tại Bảng 2.1, chỉ có 30 trên tổng số 62 học sinh THCS (chiếm tỷ lệ 48,4%) nhận diện đúng cả 5 nhóm hành vi xâm hại tình dục theo quy định của pháp luật. Có 19 học sinh (chiếm 32,3%) chỉ nhận biết được 20% số hành vi (chỉ chọn đúng 1 hành vi).

2. Thực trạng triển khai công tác xã hội và giáo dục giới tính tại Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân thời điểm nghiên cứu như thế nào?
Trường chưa có phòng công tác xã hội cũng như chưa triển khai hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp. Dù trường có 2 giáo viên có chuyên môn về giáo dục giới tính, khảo sát cho thấy 90,3% học sinh (56/62 em) khẳng định thầy cô chưa từng hướng dẫn kiến thức về xâm hại tình dục và 100% học sinh (62/62 em) xác nhận trường chưa từng tổ chức buổi sinh hoạt ngoại khóa nào về chủ đề này.

3. Khảo sát chỉ ra những ngộ nhận phổ biến nào của học sinh về nguy cơ bị xâm hại tình dục?
Nghiên cứu phát hiện nhiều sai lệch nhận thức nghiêm trọng: 56,5% học sinh cho rằng chỉ có con gái mới bị xâm hại tình dục (chỉ 40,3% hiểu rằng cả nam và nữ đều có nguy cơ); 43,6% học sinh cho rằng trẻ dưới 5 tuổi không thể bị xâm hại; 32,2% học sinh chỉ coi bộ phận sinh dục là vùng riêng tư duy nhất và không coi ngực, mông hay hậu môn là vùng cấm xâm phạm; nhiều em tin rằng kẻ xâm hại chỉ có thể là người lạ chứ không thể là người thân quen hay thầy cô giáo.

4. Kỹ năng ứng phó của học sinh ra sao khi đối mặt với tình huống bị người khác xâm phạm vào vùng riêng tư?
Khi bị động chạm vào vùng riêng tư, 50,0% học sinh (31 em) lựa chọn chạy đi báo cho người lớn; 29,0% (18 em) kết hợp la hét và chạy đi báo người lớn; 12,9% (8 em) chỉ la hét tại chỗ; 6,5% (4 em) phản ứng thụ động bằng cách khóc vì hoảng sợ; và 1,6% (1 em) phản ứng bằng cách mắng lại đối tượng. Không có học sinh nào chọn cách im lặng cam chịu.

5. Học sinh có nhận thức như thế nào về việc bảo vệ hình ảnh vùng riêng tư và ranh giới thân thể của người khác?
100% học sinh được khảo sát (62/62 em) khẳng định dứt khoát không cho người khác chụp ảnh lại bộ phận riêng tư của mình và 100% học sinh nhận thức được rằng bản thân không được phép chạm vào bộ phận riêng tư của người khác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Vĩnh Hào đã phản ánh bức tranh thực nghiệm khách quan về thực trạng nhận thức và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục của học sinh tại Trường Tiểu học và THCS Đức Xuân, tỉnh Cao Bằng năm 2020. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng mặc dù học sinh có phản xạ tự vệ bản năng đối với ranh giới thân thể, các em vẫn còn nhiều khoảng trống kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý tình huống do thiếu hụt truyền thông học đường và giáo dục gia đình. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của việc vận dụng khoa học công tác xã hội vào trường học miền núi, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ từ xây dựng phòng công tác xã hội chuyên trách đến lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em.