Chương 1: Các vấn đề lý luận về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục. Chương 2: Thực trạng phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới và ở việt nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƢỚNG TÍNH DỤC 1.
Các khái niệm nền tảng Trƣớc hết, theo nghĩa phổ biến nhất, “bản dạng giới” và “xu hƣớng tính dục” là hai trong bốn cấu thành “tính dục”. Vậy “tính dục” là gì? Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đƣa ra định nghĩa hiện đại về tính dục nhƣ sau: Tính dục là tổng thể con ngƣời, bao gồm mọi khía cạnh đặc trƣng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và có thể ổn định suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con ngƣời, không phải chỉ là bản chất sinh dục.Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hƣởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời và do đó tác động trở lại xã hội.
Rất nhiều ngƣời nhầm lẫn hai khái niệm “tính dục” và “tình dục”. Tình dục là khái niệm phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể còn tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, vừa phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể vừa chứa đựng những yếu tố vô hình và hữu hình. Tính dục bao gồm bốn cấu thành: Giới tính sinh học (do các yếu tố sinh học quy định), bản dạng giới (cảm nhận cá nhân về giới tính của mình), xu hƣớng tính dục (sự hấp dẫn về mặt tình cảm và thể chất với một cá thể khác) và thể hiện giới (sự thể hiện giới tính ra ngoài). Bản dạng giới "Bản dạng giới" (Gender Identity) là cảm nhận, là cách mỗi ngƣời nhìn nhận về giới tính của mình là gì.
Thuật ngữ này còn đƣợc dịch là "Nhân dạng giới" hay "Nhận dạng giới". Khái niệm "Giới" (Gender) không chỉ đƣợc quy định bằng phần "Giới tính Sinh học" (Biological Sex) mà nó còn xem xét cả giới tính mà mỗi ngƣời tự cảm nhận, và đó chính là "Bản dạng giới". 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo định nghĩa dựa trên Bộ nguyên tắc Yogyakarta, đƣợc nhiều cơ quan Liên Hợp Quốc nhƣ Hội đồng Nhân quyền, Cao uỷ Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Uỷ ban kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên Hợp Quốc sử dụng, “bản dạng giới” là "cảm nhận nội tâm sâu sắc và những trải nghiệm về giới của một ngƣời mà có thể không tƣơng ứng với giới tính khi sinh ra, bao gồm nhận thức cá nhân về cơ thể (bao gồm, nếu đƣợc tự do lựa chọn, việc thay đổi ngoại hình bên ngoài hay chức năng cơ thể bằng thuốc, phẫu thuật hay các biện pháp khác) và những thể hiện về giới, bao gồm phục trang, lời nói và điệu bộ". Đây là khái niệm tách biệt với giới tính sinh học.
Thông thƣờng, những ngƣời có bản dạng giới và giới tính sinh học trùng khớp nhau, họ ít khi nghĩ về sự tƣơng thích giữa hai khái niệm này. Chẳng hạn nhƣ sinh ra với giới tính sinh học là nữ, ngƣời đó phát triển và tự nhận thức, cảm nhận, thích thể hiện ra ngoài theo đúng giới tính sinh học đƣợc xác định của mình là nữ thì khi đó bản dạng giới đã trùng khớp với giới tính sinh học. Số đông của nhân loại đƣợc coi là bình thƣờng khi hai khái niệm này trùng khớp nhau và đây không phải là một quan niệm mặc định mà chỉ đơn giản vì điều này phổ biến ở đa số mọi ngƣời. Trong khi đó, đặc biệt là trong thời hiện đại ngày nay, một số nhỏ những cá nhân ngay từ khi còn nhỏ đã nhận ra cơ thể mình không khớp với giới tính mà chúng đƣợc xác định.
Hoặc có những ngƣời trong quá trình dậy thì hay thậm chí ở ngƣỡng trung niên mới nhận ra bản dạng giới của mình khác với giới tính sinh học. Khi đó, họ chọn cách thể hiện ra bên ngoài theo cách mà họ cảm nhận để cho xã hội biết giới tính của bản thân. Đây chính là “thể hiện giới”. Ví dụ, khi sinh ra đứa trẻ có giới tính sinh học là nam, đứa trẻ đó sẽ đƣợc bố mẹ cho mặc đồ nam giới, cƣ xử và dạy bảo nhƣ những đứa trẻ là nam bình thƣờng.
Gia đình và xã hội luôn gắn những kỳ vọng ngầm hoặc rõ rệt trong việc thể hiện giới của đứa trẻ đó và chính đứa trẻ cũng ý thức rất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ những lựa chọn trong phạm vi giới tính đƣợc cho phép nhƣ đồ chơi, màu sắc, quần áo hay các hoạt động và trò chơi dành cho nam giới. Dần dần khi lớn lên, nếu đứa trẻ đó tự cảm nhận rằng những thứ mình muốn thể hiện trùng khớp với những kỳ vọng đó, thì đứa trẻ đó sẽ vẫn phát triển bình thƣờng với giới tính sinh học của mình là nam. Ngƣợc lại, nếu cảm nhận và mong muốn thể hiện về giới tính của đứa trẻ đó trái với những quy chuẩn và kỳ vọng của gia đình và xã hội đặt ra, nhƣ muốn mặc váy hay đồ sặc sỡ, muốn chơi búp bê, làm những điều mà nữ giới làm… thì khi đó, bản dạng giới của nó đã không trùng khớp với giới tính sinh học. Những ngƣời có bản dạng giới không trùng với giới tính khi sinh ra thƣờng đƣợc gọi là ngƣời chuyển giới.
Cách gọi này áp dụng cho cả những ngƣời chƣa phẫu thuật, hay những ngƣời ăn mặc xuyên giới mà không nhận mình là nam hay nữ. Nếu họ nhận mình là nam (sinh ra là nữ, nghĩ mình là nam) thì sẽ gọi là chuyển giới nam. Nếu họ nhận mình là nữ (sinh ra là nam, nghĩ mình là nữ) thì sẽ gọi là chuyển giới nữ. Chính vì yếu tố cá nhân trong việc thể hiện giới, ngƣời ta đặt ra khái niệm bản dạng giới.
Đây chính là giới tính mong muốn của mỗi cá nhân, tồn tại trong suy nghĩ của chính họ. Không phải tất cả những ngƣời có giới tính sinh học khác với giới tính bản chất mà họ tự xác định đều thể hiện giới tính đó ra bên ngoài vì lý do xã hội hay những quy tắc xung quanh. Khi thể hiện giới khác biệt so với bản dạng giới, ngƣời đó đối diện với sự mâu thuẫn nội tâm gay gắt, dai dẳng. Đây là vấn đề mà nhiều ngƣời trong cộng đồng LGBT gặp phải: sống và thể hiện theo đúng bản dạng giới mong muốn hay sống và thể hiện theo quy chuẩn mà xã hội và gia đình mong muốn.
Xu hướng tính dục Khái niệm xu hƣớng tính dục (sexual orientation) - trong nhiều tài liệu dịch là khuynh hƣớng tính dục, là một trong những khái niệm khá mới ở Viê ̣t Nam. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) thì: Xu hƣớng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc, sự lãng mạn, tình dục hoặc tình cảm hƣớng tới những ngƣời khác. Nó khác với những cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới (cảm nhận tâm lý mình là nam hay nữ), và vai trò giới (sự tham gia vào quan niệm xã hội về hành vi nam tính hay nữ tính). Xu hƣớng tính dục trải dài liên tục từ hoàn toàn dị tính ái đến hoàn toàn đồng tính ái và nhiều dạng khác nhau của song tính ái.Những ngƣời song tính ái có thể có bị hấp dẫn về tình dục, tình cảm, cảm xúc với cả ngƣời cùng giới tính của họ và giới tính đối lập.] Xu hƣớng tính dục khác với hành vi tình dục bởi vì nó đề cập tới cả cảm nhận và quan niệm cá nhân.
Từng cá nhân có thể thể hiện xu hƣớng tính dục của mình thông qua hành vi tình dục của họ, và cũng có thể không [1]. Theo Bộ nguyên tắc Yogyakarta, xu hƣớng tính dục là "khả năng một ngƣời cảm thấy hấp dẫn về mặt cảm xúc sâu sắc, tình cảm, mối quan hệ gần gũi với những cá nhân có giới khác, cùng hay nhiều hơn một giới". Theo cách hiểu đƣợc chấp nhận phổ biến nhất, ngƣời có xu hƣớng tính dục hƣớng tới ngƣời cùng giới gọi là ngƣời đồng tính, hƣớng tới ngƣời khác giới là ngƣời dị tính, hƣớng tới cả hai giới là ngƣời song tính. Thực tế hiện nay, có năm xu hƣớng tính dục chính, đó là: Một là, xu hƣớng tính dục khác giới (Heterosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với ngƣời khác giới tính, không bao giờ có mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi đƣợc sinh ra), những ngƣời này thƣờng đƣợc gọi là ngƣời dị tính.
Hai là, xu hƣớng tính dục đồng giới (Homosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn với ngƣời cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với giới tính khi đƣợc sinh ra, trong đó nam giới (tiếng Anh gọi là "gay") và nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những ngƣời này đƣợc gọi chung là ngƣời đồng tính. Ba là, xu hƣớng song tính (Bisexual) - Một ngƣời không cho rằng mình mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ. Trƣớc đây, xu hƣớng này đƣợc sử dụng với thuật ngữ là lƣỡng giới.Tuy nhiên, nếu sử dụng thuật ngữ này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu là ngƣời đó mang trong mình cả hai giới tính nam và nữ. Thực chất, họ có cả hai xu hƣớng tính dục dị tính và đồng tính, không phải mang hai giới tính.Từ đó, thuật ngữ song tính đƣợc sử dụng để thay thế thuật ngữ lƣỡng giới.
Bốn là, xu hƣớng toàn tính (Pansexual) - Ngƣời bị hấp dẫn bởi bất kỳ giới nào. Cần phân biệt xu hƣớng toàn tính với xu hƣớng song tính. Khi nói dị tính, đồng tính hay song tính, chúng ta đang dựa trên quan niệm rằng mọi ngƣời đều phân ra làm hai giới (nam và nữ). Tuy nhiên ta cũng biết, xét về bản dạng giới, một ngƣời có thể nhận mình là nam, nữ, hoặc cả hai, hoặc ở đâu đó giữa nam và nữ, hay ở đâu đó ngoài nam và nữ.