mở đầu có tựa đề Một thời đại trong thi ca, với con mắt tinh đời của nhà phê bình văn học tài hoa và xuất chúng, tác giả Thi nhân Việt Nam đã khái quát về phong cách văn học của phong trào Thơ mới trong mười năm đầu (1932 - 1941) và phong cách nghệ thuật của một số nhà thơ mới tiêu biểu như sau: “Một thời đại vừa chẵn mười năm… Tôi quả quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại nào phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [78, 25]. Ngày nay, phong cách không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mà còn được dùng phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng dù ở lĩnh vực nào, phong cách bao giờ cũng là hệ thống những đặc điểm tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng, khu biệt hiện tượng này với hiện tượng khác.
Chính vì vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy không phải ai cũng có phong cách, không phải nhà thơ nào cũng tạo dựng được một phong cách, một “khuôn mặt tinh thần” của riêng mình. Chỉ những nhà văn, nhà thơ có tài năng, có bản lĩnh nghệ thuật, biết sử dụng các phương tiện hình thức theo một cách nào đó rất riêng mà vẫn tạo được thể thống nhất mang sức hấp dẫn, khơi gợi mỹ cảm nơi người khác mới được xem là có phong cách. Tuy phong cách có thể được xét ở nhiều cấp độ, trên nhiều bình diện nhưng trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu về phong cách của một nhà văn, một tác giả là quan trọng nhất. Bởi vì suy cho cùng, phong cách của nhà văn góp phần làm nên đặc điểm phong cách của thời đại và phong cách của nhà văn luôn luôn được thể hiện thông qua tác phẩm, làm nên phong cách của tác phẩm.
Chúng tôi xem phong cách của nhà văn chính là phẩm chất sáng tạo cao nhất trong quá trình hiện thực hóa đời sống bằng phương tiện ngôn từ nghệ 16 thuật. Gorki rằng: “người nghệ sĩ cần lấy cái gì là của riêng mình … (bởi vì) một người không có cái gì của riêng mình thì người đó chẳng có cái gì hết. Người nghiên cứu phải đặc biệt chú ý những yếu tố được lặp đi lặp lại, những yếu tố nổi trội, những điểm-nhấn-sáng thường xuyên xuất hiện trong hệ thống tác phẩm với sự bền vững, nhất quán ở tất cả các yếu tố cấu thành nên nó khiến cho những sáng tác của nhà văn đó có diện mạo, cốt cách riêng biệt, độc đáo không thể trộn lẫn với bất kì ai khác” [19, 125]. Như vậy, từ việc điểm qua những ý kiến tiêu biểu về khái niệm phong cách đã cho phép chúng ta nhận diện một cách đầy đủ hơn khái niệm phong cách nghệ sĩ.
Từ các ý kiến đó, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 1. Phong cách thể hiện một cách nhìn mới mẻ, cách trình bày và kiến giải độc đáo những vấn đề mà nghệ sĩ quan tâm thông qua những hình tượng nghệ thuật đặc sắc. Nghiên cứu phong cách là nghiên cứu hình thức phù hợp với nội dung, hình thức bao giờ cũng phải mang tải, chứa đựng một nội dung tương ứng. Dĩ nhiên, sự “phù hợp”, “kết hợp” trên đây phải làm hiện lên sự thống nhất tất cả mọi dáng vẻ độc đáo của nhà văn.
Giữa phong cách và phương pháp sáng tác có sự khác biệt cần nhận thấy. Nói đến phương pháp sáng tác là nói đến chân lý nghệ thuật, chiều sâu nhận thức về chất lượng lí tưởng, nói đến những giai đoạn phát triển trong lịch sử văn nghệ; còn nói đến phong cách là nói đến đặc sắc riêng của nhà văn. Phong cách hiện ra như một phẩm chất, nó kết hợp một cách biện chứng hàng loạt những yếu tố khác nhau như thế giới quan, vốn sống, trình độ văn hóa, năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt là cá tính sáng tạo. Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản nghệ thuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng phong cách được thể hiện trong suốt quá trình hoạt động sáng tạo của nhà văn.
Phong cách có thể được hình thành ngay từ lúc nhà văn mới cầm bút và từ đây bắt đầu vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng của thế giới quan, của môi trường sống, của bối cảnh thời đại, của các nhà văn mà họ yêu thích. Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà văn, nhà thơ khi bắt đầu cầm bút mới là lúc họ mày mò, lựa chọn và dần định hình phong cách của mình. Vì thế nên có rất nhiều ý kiến thống nhất rằng: phong cách một mặt do tài 17 năng bẩm sinh của người nghệ sĩ nhưng mặt khác quan trọng hơn là kết quả của quá trình đào luyện lâu dài, quá trình lăn lộn trải nghiệm đời sống, quá trình tổng hợp và phát triển không ngừng nghỉ của tâm hồn, trí tuệ, học hỏi và rèn luyện của nhà văn. Phong cách được hình thành trên cơ sở tài năng nhưng nếu nhà văn không khổ công lao động nghệ thuật thì tài năng ấy cũng dừng lại ở dạng tiềm năng và đôi khi không được nhận ra hoặc đôi khi nhận ra nhưng lại không tránh khỏi sự mai một.
Để khẳng định được phong cách, đòi hỏi nhà văn phải lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc, bền bỉ và say mê. Do tiếp cận đề tài trên bình diện phong cách của một tác giả chứ không phải phong cách nghệ thuật nói chung hay phong cách của các trào lưu, phong cách dân tộc, phong cách thời đại nên luận văn không đi sâu trình bày lịch sử những vấn đề lý luận về phong cách và những mối quan hệ đa dạng, phức tạp của nó với các phạm trù khác của lý luận văn học. Ở phần này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc lược thuật những quan niệm về phong cách nhà văn. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành khảo sát, đối chiếu cụ thể vào văn bản nghệ thuật của Văn Công Hùng nhằm hệ thống hóa những nét độc đáo, tiêu biểu, nhất quán, có ý nghĩa thẩm mỹ cao trong sáng tác thơ ca của ông.
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật của một số tác giả, chúng tôi nhận thấy: Các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở các định nghĩa đã có để từ đó thể hiện quan niệm về phong cách của mình tùy thuộc vào đặc trưng riêng của nhà văn, nhà thơ mà mình nghiên cứu. Bằng cách này, chúng tôi đã tổng hợp thành hệ thống những hiểu biết của mình về phong cách nhằm dùng nó để tiếp cận các tác phẩm thơ Văn Công Hùng với tư cách là một chỉnh thể toàn vẹn làm nổi bật phong cách nghệ thuật của ông. Một số yếu tố định hình phong cách thơ Văn Công Hùng 1. Hoàn cảnh xã hội – thời đại Mối quan hệ giữa nhà văn và thời đại là mối quan hệ khăng khít, khó tách rời.
Điều này cũng giống như con người sống và hít thở bầu không khí ở miền đất nào, ăn hạt gạo, uống ngụm nước của vùng quê nào thì nói được cái giọng của vùng quê ấy mà thôi. Đối với Văn Công Hùng, sự ảnh hưởng của thời đại 18 đến sự hình thành và phát triển phong cách nghệ thuật của ông là vô cùng lớn lao. Có lần tôi đã được nghe nhà thơ nói về sự may mắn của mình khi cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ đồng điệu với những vận động, đổi thay của thời đại. Theo Văn Công Hùng, nhờ sự đồng điệu đó mà thơ ông được chú ý.
Cần phải nhắc đến những sự kiện tác động lớn lao đến đời sống văn học. Trước hết đó là năm 1986, cột mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn đổi mới toàn diện trên đất nước Việt Nam ta với Đại hội Đảng lần thứ VI do Bí thư Nguyễn Văn Linh khởi xướng. Từ đây, đất nước dần vượt qua thời kì khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc. Kế tiếp phải nhắc đến một sự kiện tác động trực tiếp đến đời sống văn học.
Đó là cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 để triển khai nghị quyết 05 của Bộ chính trị. Tất cả cho ta thấy một cuộc lột xác lớn lao trong đời sống dân tộc ta. Mọi phương diện xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa… đều phải tuân theo nhịp vận động mới của thời cuộc. Người nghệ sĩ vì vậy cũng cần thay đổi cách thức sáng tạo cũng như mở rộng biên độ tư duy nghệ thuật nhằm chuyển tải thành công những biến chuyển mới mẻ của đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, sự thay đổi quan niệm sáng tác từ hướng ngoại chuyển sang hướng nội, văn học thời kỳ này đề cập mạnh mẽ đến sự cách tân và hiện đại hóa, thể hiện rầm rộ và mạnh mẽ dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng phong phú từ nội dung đến hình thức. Đó chính là sự thoát khỏi những quan niệm thẩm mỹ và tư tưởng nghệ thuật thời trước 1975 để hòa nhập vào quỹ đạo văn học thế giới. Với một lực lượng sáng tác hùng hậu, thơ ca có sự bùng nổ về số lượng và sự đa sắc đa diện: mở rộng biên độ phản ánh (Có thể nói không có một địa hạt nào của đời sống là vùng cấm của thơ ca. Thơ đã tìm đến nhiều ngõ ngách của cuộc sống và con người, cả bề nổi và bề chìm, bề sâu và bề xa, cả cao siêu và trần thế, tâm hồn và xác thịt, từ hiện thực xã hội đến đời sống tâm linh, từ khát vọng, lý tưởng, bổn phận đến những tình cảm riêng tư nhỏ bé, những khao khát bản năng); tính chất đa khuynh hướng (phân chia thành nhiều dòng, nhiều hướng thơ: thơ “dòng chữ”, thơ “dòng nghĩa”, thơ “âm bồi”, thơ “vụt hiện”, thơ đồ hình, thơ “Dơ”, thơ “Rác”, thơ Tân hình thức, thơ tình dục …); sự đa dạng 19 về thi pháp (hiện đại chủ nghĩa, Tân hình thức, hậu hiện đại).
Trong hoàn cảnh đó, có thể thấy Văn Công Hùng đã nắm bắt được những vận động còn rất nhỏ mà tinh vi của đời sống văn học, hòa mình vào dòng chảy sôi nổi, táo bạo, lạ lùng của một thời thơ mới. Vì thế, nhà thơ đã khẳng định được phong cách, giọng thơ riêng của mình, góp phần cùng những nhà thơ khác tạo nên một diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam giai đoạn sau 1986.