CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC MÔ HÌNH PHÊ DUYỆT TÍN DỤNG - NỢ XẤU VÀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MÔ HÌNH PHÊ DUYỆT TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và cuộc chạy đua cạnh tranh công nghệ thời kì 4.0, hoạt động Ngân hàng đã có những buớc phát triển rất nhanh chóng. Các dịch vụ Ngân hàng cung cấp ngày càng phong phú, đa dạng và đã mang lại nguồn thu rất lớn cho hệ thống các Ngân hàng. Trong đó, cung cấp tín dụng là hoạt động chủ lực tạo ra nguồn lợi nhuận lớn cho các NHTM.
Đi kèm với đó, rủi ro trong ngân hàng có xu huớng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng, có thể nói đây là rủi ro lớn nhất và thuờng xuyên xảy ra. Rủi ro từ hoạt động tín dụng, nợ xấu tăng tác động mạnh mẽ tới hoạt động của ngân hàng, nghiệm trọng hơn có thể khiến các ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn, phá sản. Trong quy trình cấp tín dụng, khâu thẩm định và phê duyệt tín dụng là tối quan trọng, ảnh huởng trực tiếp đến chất luợng và rủi ro tín dụng của một khoản vay. Do đó việc quản trị rủi ro tín dụng, xác định mô hình phê duyệt tín dụng thực sự quan trọng, cần thiết cho mỗi NHTM.
Tùy từng thời kỳ, từng chủ truờng, mỗi NHTM sẽ chọn cho mình một mô hình phê duyệt tín dụng phù hợp nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng, đồng thời đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả. Truớc hết ta cần nắm đuợc một quy trình tín dụng chung tại các NHTM hiện nay bản chất là tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay của khách hàng cho đến khi quyết định cấp tín dụng, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. Quy trình tín dụng chỉ rõ mỗi quan hệ giữa các bộ phận có liên quan trong hoạt động cấp tín dụng, theo đó có sự liên 7 quan của 4 bộ phận: • Bộ phận kinh doanh • Bộ phận thẩm định • Đơn vị phê duyệt • Bộ phận hỗ trợ Mô hình thẩm định và phê duyệt tín dụng là quá trình một doanh nghiệp hoặc một cá nhân phải trải qua để trở thành đủ điều kiện cho một khoản cấp tín dụng. Trong phạm vi NHTM, Thẩm định là quá trình ngân hàng thu thập và xử lý, phân tích, đánh giá khách hàng vay một cách toàn diện, thống nhất và tuân thủ các quy định pháp luật nhằm làm cơ sở để đua ra quyết định cấp tín dụng.
Mục đích chính của mô hình thẩm định, phê duyệt là đánh giá một cách chính xác, trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay. Qua đó đánh giá đuợc mức độ tin cậy của phuơng án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tu, nhu cầu vay của khách hàng, phân tích đánh giá mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay. Mô hình phê duyệt tín dụng là mô hình bao gồm các quy định về tổ chức bộ máy cấp tín dụng, các quy định về trình tự và thẩm quyền của bộ máy cấp tín dụng cũng nhu bộ máy giám sát hoạt động tín dụng. Mô hình đó đuợc xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng.
Mô hình phê duyệt tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nhiệm vụ. Tùy thuộc vào quy mô của ngân hàng, khả năng chấp nhận rủi ro tín dụng và độ phức tạp trong tổ chức của ngân hàng, mô hình phê duyệt tín dụng có thể có nhiều hình thức. Một mô hình phê duyệt tín dụng hiệu quả là phải gắn kết đuợc mục tiêu kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng nhu đảm bảo kết quả hoạt động kinh doanh. Hiện nay trên thế 8 giới có hai mô hình phê duyệt tín dụng phổ biến thường được các NHTM áp dụng là mô hình phê duyệt tín dụng phân tán và mô hình phê duyệt tín dụng tập trung.
Mô hình phê duyệt tín dụng phân tán Mô hình phê duyệt tín dụng phân tán là mô hình trong đó từng cán bộ lãnh đạo, ban lãnh đạo các đơn vị kinh doanh được quy định các mức phán quyết tín dụng cụ thể. Khi giá trị cấp tín dụng vượt thẩm quyền, các ĐVKD phải trình hồ sơ lên các cấp cao hơn phê duyệt. Hiểu đơn giản công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro, phê duyệt được thực hiện tại các đơn vị kinh doanh, không tập trung vào đầu mối chính Hội sở. Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ là chỉ đạo định hướng chung và thẩm định, phê duyệt những khách hàng vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh.
Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa 3 chức năng: Chức năng kinh doanh, Chức năng quản lý rủi ro và Chức năng tác nghiệp. Các phòng ban tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản cấp tín dụng. Ưu điểm của mô hình này là cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản rất phù hợp với các ngân hàng nhỏ, mới phát triển. Việc thu thập xử lý, thẩm định hồ sơ thuộc thẩm quyền đều ở cấp dưới chi nhánh, làm việc trực tiếp với khách hàng do đó giải quyết hồ sơ nhanh chóng, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.
Đồng thời quá trình xây dựng và triển khai mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán không mất nhiều công sức và thời gian. Bên cạnh đó mô hình này hiện nay ngày càng bộc lộ rõ nhiều yếu điểm do nhiều công việc tập trung hết một nơi dẫn tới thiếu sự chuyên sâu. Tại chi nhánh làm hết các công việc do đó không có sự tách biệt hoàn toàn, độc lập giữa các chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản lý rủi ro tín dụng, làm giảm hiệu suất công việc của các bộ phận chức năng. Quan ngại lớn nhất của mô 9 hình này chính là việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phuơng thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng dẫn đến việc quản lý rủi ro tín dụng gặp nhiều khó khăn.
Mô hình phê duyệt tín dụng tập trung Mô hình phê tín dụng tập trung là mô hình mà công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro của ngân hàng và phê duyệt đuợc tập trung ở hội sở chính hoặc theo vùng, miền. Các chi nhánh chỉ thẩm định sơ qua hoặc scan hồ sơ về hội sở chính để ra quyết định. Mô hình này tách biệt độc lập giữa 3 chức năng: Chức năng kinh doanh, Chức năng quản lý rủi ro và Chức năng tác nghiệp. Sự tách biệt giữa 3 chức năng này nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất, đồng thời phát huy đuợc tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.
Mô hình phê duyệt tín dụng tập trung giúp kiểm soát hoạt động tín dụng chặt chẽ hơn, tìm kiếm và lọc ra đuợc những khách hàng tốt. Mô hình có thể coi nhu là một công cụ quản lý và kiểm soát rủi ro ngay từ những buớc đầu tiên của quy trình cấp tín dụng. Hệ thống khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng rất đa dạng. Mỗi một khách hàng nhu vậy lại tiềm ẩn những rủi ro khác nhau.
Việc sử dụng một mô hình phê duyệt tín dụng chặt chẽ, nhiều bộ phận kiểm soát khoản tín dụng có tuân thủ theo đúng quy định giảm đuợc tình trạng vị nể hoặc cho khách hàng vay dựa trên các mối quan hệ, thẩm định tín dụng không kĩ càng. Qua đó, rủi ro tín dụng đuợc quản lý chặt chẽ hơn. Một khi đã kiểm soát chặt chẽ, ngân hàng sẽ lựa chọn những vị khách hàng tốt và có khả năng trả nợ để cấp tín dụng, qua đo hoạt động sẽ có hiệu quả và quan trọng là nợ xấu sẽ ít phát sinh hơn. Một quy trình cấp tín dụng không chặt chẽ dễ dẫn đến tình trạng cán bộ tín dụng sả ngã không thực hiện đầy đủ các buớc và những thủ tục cần thiết khi quyêt định cho vay và nhu vậy các khoản vay sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao.
Bên cạnh đó, việc để một bộ phận thậm chí một cán bộ thực hiện toàn bộ 10 chức năng thẩm định, cho vay, công chứng, quản lý như mô hình cũ rất dễ làm phát sinh rủi ro tín dụng cũng như rủi ro đạo đức của CBTD. Mô hình tập trung hóa từ khâu thẩm định, phê duyệt, công chứng, quản lý được triển khai cải thiện rất nhiều các vấn đề trên. CBTD sẽ chỉ tập trung tìm kiếm khách hàng, thẩm định sơ bộ và thu thập hô sơ. Các việc còn lại sẽ được một bộ phạn xử lý tín dụng tập trung giải quyết một các khách quan thông qua việc thẩm định dựa trên những hồ sơ cán bộ tín dụng đã thu thập được.
Rõ ràng điều này giúp hệ thống được kiểm soát chặt chẽ hơn, các khâu thực hiện chuyên nghiệp hơn và quan trọng là kiểm soát chất lượng tín dụng tốt hơn. Ưu điểm của mô hình này là quản lý cấp tín dụng một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài. Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất trên toàn hệ thống. Dễ điều hành vốn, dễ điều chỉnh cơ cấu theo mục tiêu định sẵn.
Thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro. Tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản lý rủi ro tín dụng. Nhược điểm xây dựng và triển khai mô hình phê duyệt tín dụng tập trung này đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian. Để có thể triển khai được mô hình này một cách hiệu quả cần phải đầu tư hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ được việc tổng hợp, phân loại hồ sơ từ chi nhánh lên Hội sở chính và theo các tiêu chí nhất định.
Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức chuyên môn sâu, rộng và biết vận dụng lý thuyết vào công việc.