Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Trang, chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21) tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Lai Thúy và TS. Tôn Thất Dụng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bước sang thế kỷ XXI, nhân loại đối mặt với khủng hoảng môi trường: biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, thiên tai và dịch bệnh do hệ quả của quá trình công nghiệp hóa và tư tưởng xem con người là bá chủ thế giới tự nhiên. Trong bối cảnh đó, phê bình sinh thái ra đời như một trào lưu học thuật nhằm tái nhận thức hành vi và trách nhiệm của con người đối với hệ sinh thái. Tại Việt Nam, sau năm 1986, tiểu thuyết đã có những chuyển biến rõ nét, xuất hiện nhiều tác phẩm phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Tuy nhiên, phê bình sinh thái vẫn là một khoảng trống nghiên cứu, chưa có công trình chuyên luận nào khảo sát toàn diện và có hệ thống thể loại tiểu thuyết giai đoạn Đổi mới dưới góc nhìn lý thuyết này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phê bình sinh thái và cội nguồn triết học của lý thuyết này từ phương Tây đến phương Đông.
  2. Vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái kết hợp với cảm quan hậu hiện đại (đặc biệt là lý thuyết giải cấu trúc) để phân tích các đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986.
  3. Phân tích và định giá hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết qua các chuẩn tắc đạo đức sinh thái, làm rõ sự chuyển biến từ tư tưởng nhân loại trung tâm sang ý thức sinh thái.
  4. Làm sáng tỏ sự phục hưng tinh thần sinh thái thông qua các phương diện quyền lực văn hóa, diễn ngôn văn học và các huyền tích, tập tục dân gian.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 thể hiện cảm thức sinh thái qua các tác phẩm tiêu biểu của Đỗ Phấn, Nguyễn Khắc Phê, Trần Duy Phiên, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thế Hùng, Đặng Thiều Quang, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Thủy, A Sáng, Đỗ Tiến Thụy, Thiên Sơn, Nguyễn Trí, Nguyễn Văn Học...
  • Phạm vi không gian và thời gian: Trọng tâm thời gian danh nghĩa là từ năm 1986 (khởi đầu thời kỳ Đổi mới) đến năm 2014 (thời điểm tác giả nhận đề tài). Luận án mở rộng khảo sát tư liệu thực tế sang các năm 2015, 2016 và 2017 nhằm bao quát các hiện tượng văn học sinh thái đương đại. Phạm vi nội dung tập trung vào hệ sinh thái, hình tượng con người và các hình thức nghệ thuật thể hiện góc nhìn sinh thái trong tiểu thuyết.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết phê bình sinh thái trên thế giới

Tác giả hệ thống hóa diễn trình phát triển của phê bình sinh thái thế giới (chủ yếu qua tư liệu tiếng Anh) thành ba chặng đường:

Chặng đường Thời gian Các tác giả, công trình và sự kiện tiêu biểu
Chặng 1: Thời kỳ manh nha 1972 – 1991 - J. W. Meeker (1972): The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology.
- William Rueckert (1978): Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism (khởi xướng thuật ngữ Ecocriticism).
- Frederick O. Waage (1985): Teaching Environmental Literature.
- Báo cáo của Cheryll Glotfelty (1989) và Glen A. Love (1989) tại Hội văn học miền Tây nước Mỹ.
- Robert Finch và John Elder (1990): The Norton Book of Nature Writing.
- Jonathan Bate (1991): Romantic Ecology: Wordsworth and the Environmental Tradition.
- Harold Fromm (1991): Chủ trì hội thảo Ecocriticism: The Greening of Literary Studies.
Chặng 2: Bùng nổ lý thuyết 1992 – 2004 - Thành lập Hội nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE) năm 1992 tại Đại học Nevada.
- Scott Slovic (1992): Seeking Awareness on American Nature Writing.
- Kent C. Ryden (1993): Mapping the Invisible Landscape.
- Karl Kroeber (1994): Ecological Literary Criticism.
- Lawrence Buell (1995): The Environmental Imagination; (2001): Writing for an Endangered World.
- Cheryll Glotfelty và Harold Fromm (1996): The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology.
- Michael Bennett và David W. Teague (1999): The Nature of Cities.
- Laurence Coupe (2000): The Green Studies Reader.
- Greg Garrard (2004): Ecocriticism.
- Các tài liệu của Peter Barry (2002), Kate Rigby (2001), Serpil Oppermann.
Chặng 3: Hoàn thiện và mở rộng 2005 – nay - Lawrence Buell (2005): The Future of Environmental Criticism.
- Catrin Gersdorf và Sylvia Mayer (2006): Nature in Literary and Cultural Studies.
- Scott Slovic (2008): Going Away to Think.
- Susan Rowland (2011): The Ecocritical Psyche (kết hợp tâm lý học phân tích của C. Jung).
- Greg Garrard (2013): The Oxford Handbook of Ecocriticism.
- Scott Slovic và S. Sarveswaran (2014): Ecoambiguity, Community, and Development.

Tình hình tiếp nhận và nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về mặt tiếp nhận lý thuyết và dịch thuật: Báo cáo thuyết trình của Karen Thornber tại Viện Văn học (2011); bài lược dịch của Đỗ Văn Hiểu (2012); bản dịch bài viết của Karen Thornber do Trần Ngọc Hiếu thực hiện (2013); bài dịch lời giới thiệu của Cheryll Glotfelty do Trần Thị Ánh Nguyệt thực hiện (2014); công trình tập hợp dịch thuật Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên (2017).
  • Về mặt nghiên cứu lý luận: Nguyễn Thị Tịnh Thy với bài viết Phê bình sinh thái – nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc (2013) và chuyên luận Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương – Phê bình sinh thái (2017); bài viết của Phương Lựu về sự chuyển hướng của phê bình sinh thái (2015); bài phân tích của Nguyễn Văn Dân (2014).
  • Về mặt ứng dụng văn học và liên ngành: Khảo sát truyện ngắn của Đặng Thị Thái Hà (2014), Ngô Thị Thu Giang (2014); thơ ca của Nguyễn Đăng Điệp (2014), Nhã Thuyên (2011), Dương Thu Hằng (2015); phóng sự của Trịnh Thị Bích Liên (2008); tản văn của Lê Trà My (2009); sinh thái tinh thần của Trần Đình Sử (2016); tiểu thuyết dịch của Trần Xuân Tiến (2016); cùng các nghiên cứu sinh thái văn hóa của Trần Quốc Vượng (2003), Trần Hải Yến (2014), Phan Thị Yến Tuyết (2015), Hoàng Diệu Thảo (2014).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trong nước dừng lại ở mức độ giới thiệu lý thuyết, hoặc ứng dụng ở các thể loại truyện ngắn, thơ, tản văn, phóng sự và tác giả riêng lẻ. Chưa có công trình nào khảo sát một cách hệ thống, quy mô đối với diện mạo tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 dưới lăng kính phê bình sinh thái kết hợp phương diện giải cấu trúc và đạo đức sinh thái.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Khái niệm và nguyên tắc phê bình sinh thái: Luận án tiếp thu định nghĩa của Cheryll Glotfelty, Vương Nặc và định nghĩa do Nguyễn Thị Tịnh Thy tổng hợp: Phê bình sinh thái là hướng phê bình nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ lập trường chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, khám phá thẩm mỹ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật trong tác phẩm.
  2. Cội nguồn triết học:
    • Triết học phương Tây: Tư tưởng tôn trọng sinh mệnh thời cổ đại (Cicero) và Phục hưng (Qiesapiernuo); chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự nhiên (V. Hugo, H. D. Thoreau); thuyết tiến hóa của C. Darwin; khái niệm chuỗi sinh tồn của Linnaeus; luân lý "kính trọng sinh mệnh" của Albert Schweitzer; "luân lý địa cầu" và "cộng đồng sinh vật" của Aldo Leopold; phong trào sinh thái học hiện đại khởi phát từ tác phẩm Mùa xuân im lặng (Rachel Carson, 1962); cùng các phê phán văn minh kỹ trị của M. Heidegger, Horkheimer, Marcuse, Habermas.
    • Triết học và văn hóa phương Đông: Tư tưởng "vạn vật đồng nhất thể" trong Kinh Veda; tư tưởng "thiên nhân hợp nhất", triết lý vô vi thuận theo tự nhiên của Đạo giáo (Lão Tử), kết hợp các giá trị sinh thái trong Phật giáo và Nho giáo.
  3. Khung phân tích hậu hiện đại và giải cấu trúc (Deconstruction): Luận án vận dụng quan điểm của J. Derrida, J. Lacan, M. Foucault (quyền lực của diễn ngôn), R. Barthes (cái chết của tác giả), M. Bakhtin (nguyên lý đối thoại), cùng các nhà lý luận phê bình sinh thái hậu hiện đại như Serpil Oppermann, Christopher Cokinos, Michael Verderame.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học văn học, không sử dụng kỹ thuật định lượng hay thống kê toán học:

  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt các hiện tượng văn học và dấu hiệu thi pháp sinh thái trong một chỉnh thể thống nhất, phân tích khuynh hướng vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới trong mối tương quan với các đặc trưng của phê bình sinh thái.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học với các lĩnh vực văn hóa, triết học, sinh học, xã hội học, địa lý và dân tộc học để phân tích các vấn đề môi trường được phản ánh trong văn bản nghệ thuật.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các hiện tượng trong tiểu thuyết Việt Nam với các khuynh hướng văn học sinh thái thế giới và các giai đoạn văn học trước đó nhằm xác định đặc trưng tiếp biến nghệ thuật.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn bản các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam xuất bản từ năm 1986 đến năm 2014 (mở rộng đến 2017).
  • Hệ thống chuyên luận, bài báo khoa học, giáo trình lý luận văn học và phê bình sinh thái trong nước và quốc tế (chủ yếu là tài liệu tiếng Anh và các bản dịch tiếng Việt).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này thực hiện tổng thuật chi tiết lịch sử hình thành và phát triển của lý thuyết phê bình sinh thái trên phạm vi quốc tế qua ba giai đoạn (1972–1991, 1992–2004, 2005–nay); phân tích quá trình du nhập, dịch thuật và thực hành phê bình sinh thái tại Việt Nam. Đồng thời, chương 1 phác họa diện mạo tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986: quá trình chuyển dịch từ cảm hứng sử thi, ca ngợi mang tính nhị nguyên sang cảm hứng thế sự, đời tư, giải thiêng và từng bước tiếp cận các vấn đề sinh thái toàn cầu.

Chương 2: Một cái nhìn hậu/ giải cấu trúc về phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014

Chương 2 tập trung luận giải đặc tính hậu hiện đại và giải cấu trúc của phê bình sinh thái, khẳng định giải cấu trúc giúp phê bình sinh thái phá vỡ thế đối lập nhị nguyên nhân loại/tự nhiên. Khi soi chiếu vào tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, tác giả làm rõ ba phương diện giải cấu trúc chính:

  • Phi trung tâm (Decentralization): Phá bỏ tư tưởng nhân loại trung tâm, lật đổ quan niệm con người là "hoa đất" hay "bá chủ vũ trụ". Thiên nhiên không còn là bối cảnh tĩnh mà trở thành một thực thể song hành, tương tác và định đoạt số phận con người (thể hiện qua các tác phẩm như Săn cá thần của Đặng Thiều Quang, Chó Bi, đời lưu lạc của Ma Văn Kháng, Ruồi là ruồi của Đỗ Phấn, Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên). Hiện thực đời sống được thể hiện dưới dạng những mảnh vỡ bất định (Sông của Nguyễn Ngọc Tư, Biển của vô cùng của Thủy Trương).
  • Cái chết của chủ thể – tính liên chủ thể: Giải kiến tạo "căn tính người", đặt con người trong mối quan hệ bình đẳng, tương thuộc với các sinh mệnh phi nhân loại.
  • Tính đối thoại: Thiết lập sự đối thoại đa chiều giữa con người và tự nhiên, giữa văn bản văn học và bối cảnh khủng hoảng sinh thái thực tế.

Chương 3: Định giá chuẩn tắc đạo đức sinh thái từ hệ thống nhân vật

Chương 3 khảo sát và phân loại hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 theo các thang bậc chuẩn tắc đạo đức sinh thái:

HỆ THỐNG NHÂN VẬT THEO CHUẨN TẮC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI
  • Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên: Đại diện cho tư tưởng nhân loại trung tâm cực đoan, khai thác tự nhiên vì lòng tham và mục đích vụ lợi; hoặc mang sự mơ hồ sinh thái, ngộ nhận trong cuộc đấu tranh sinh tồn.
  • Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái: Những đối tượng chịu tác động nặng nề nhất từ ô nhiễm môi trường và suy thoái sinh thái, gắn liền với các khía cạnh: sinh thái giai cấp (nông dân, người lao động nghèo), sinh thái đô thị (thị dân, trí thức ngột ngạt giữa bê tông hóa) và sinh thái nữ quyền (sự tương đồng giữa việc tự nhiên bị tàn phá và phụ nữ bị áp bức).
  • Kiểu nhân vật thức tỉnh: Trải qua sám hối, nhận thức được tội lỗi xâm phạm môi sinh, xuất hiện niềm kính sợ sinh mệnh, chủ động hành động bảo vệ môi trường hoặc lựa chọn lối sống hòa hợp, ẩn dật giữa thiên nhiên.

Chương 4: Phục hưng tinh thần sinh thái từ quyền lực văn hóa

Chương 4 phân tích cách thức tiểu thuyết văn học tham gia vào quá trình phục hưng tinh thần sinh thái thông qua các cơ chế văn hóa:

  • Quyền lực của diễn ngôn: Khai mở nhãn quan văn minh đương đại, sử dụng ngôn ngữ văn học để định hình lại nhận thức của cộng đồng đối với môi trường tự nhiên.
  • Định hình diễn ngôn lãng mạn tự nhiên trong tầm nhận thức mới: Tái hiện vẻ đẹp tự nhiên không phải để trốn tránh thực tại mà nhằm tạo sự thức tỉnh sinh thái.
  • Kiến tạo diễn ngôn sinh thái hiện đại: Xây dựng những tưởng tượng mới về môi trường, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa văn chương và hiện thực khủng hoảng sinh thái.
  • Vai trò của huyền tích và tập tục: Tái hiện các tín ngưỡng bản địa, huyền thoại dân gian, tập tục thờ cúng tự nhiên như phương thức điều chỉnh tư duy và hành vi của con người đối với Trái đất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu lý thuyết phê bình sinh thái trong bối cảnh nghiên cứu văn học Việt Nam; cung cấp một cái nhìn toàn diện về lịch sử, cội nguồn triết học phương Đông - phương Tây và các giai đoạn phát triển của lý thuyết này.
  2. Xác lập khung tiếp cận liên ngành giữa phê bình sinh thái và lý thuyết giải cấu trúc hậu hiện đại, chỉ ra rằng việc giải cấu trúc tư tưởng nhân loại trung tâm là tiền đề để tái thiết mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên.
  3. Gợi mở và làm sâu sắc thêm khái niệm "sinh thái tinh thần", khẳng định văn học có vai trò trực tiếp trong việc định hình chuẩn tắc luân lý và bảo vệ sự tồn vong của nhân loại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Khảo sát có hệ thống diện mạo tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 từ góc nhìn sinh thái, chỉ ra sự vận động từ văn học miêu tả thiên nhiên truyền thống sang văn học sinh thái mang tính cảnh báo và phản tư.
  2. Xây dựng mô hình phân loại hệ thống nhân vật tiểu thuyết theo các chuẩn mực đạo đức sinh thái, cung cấp công cụ phân tích cụ thể cho việc đọc hiểu văn bản văn xuôi đương đại.
  3. Thúc đẩy các nhà văn, nhà phê bình và độc giả nâng cao trách nhiệm sinh thái, gắn kết nghiên cứu học thuật với các vấn đề thực tiễn của thời đại.

Kiến nghị và định hướng tác giả đề xuất

  • Đề xuất mở rộng việc vận dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu các thể loại văn học khác ngoài tiểu thuyết.
  • Đề nghị giới sáng tác chú ý hơn nữa đến mối quan hệ giữa văn học và môi trường, đưa văn học Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với các trào lưu học thuật toàn cầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Nguồn tài liệu lý thuyết quốc tế được tiếp cận chủ yếu nằm trong phạm vi văn bản tiếng Anh, chưa bao quát được toàn diện các công trình bằng các ngôn ngữ khác.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu danh nghĩa dừng ở mốc 2014 (năm tiếp nhận đề tài), dù đã mở rộng khảo sát đến năm 2017 nhưng chưa thể bao quát hết các tác phẩm mới xuất bản sau thời điểm bảo vệ.
  • Hướng tiếp cận của luận án tập trung chủ yếu vào nội dung tư tưởng, đạo đức và luân lý sinh thái, mức độ đi sâu vào các hình thức thi pháp ngôn từ thuần túy có dung lượng giới hạn hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái sang các giai đoạn văn học khác (như văn học trung đại, văn học 1930 – 1945) hoặc các thể loại khác (kịch, điện ảnh, nghệ thuật thị giác).
  • Tiếp cận tác phẩm văn học thông qua các nhánh chuyên sâu mới nổi của phê bình sinh thái như: Chủ nghĩa Mác sinh thái (Eco-Marxism), Ký hiệu học sinh học (Biosemiotics), hay Địa văn hóa sinh thái.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng học thuật cụ thể sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết phê bình sinh thái, phương pháp luận nghiên cứu liên ngành và kỹ thuật phân tích văn bản tự sự theo chủ đề môi trường.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Sử dụng làm tư liệu giảng dạy chuyên đề văn học Việt Nam hiện đại, lý luận văn học phương Tây hiện đại và văn học so sánh.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và môi trường: Tham khảo các phân tích về mối quan hệ giữa văn hóa bản địa, tập tục dân gian, quyền lực diễn ngôn với hành vi ứng xử của xã hội đối với tự nhiên.
  • Phần đáng chú ý nhất để tra cứu: Bảng tổng thuật lịch sử phê bình sinh thái thế giới và Việt Nam tại Chương 1; khung phân loại nhân vật theo đạo đức sinh thái tại Chương 3; và danh mục các tác phẩm tiểu thuyết sinh thái tại phần Phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa phê bình sinh thái như thế nào?

Luận án tiếp thu định nghĩa tổng hợp của Nguyễn Thị Tịnh Thy (dựa trên quan điểm của Cheryll Glotfelty và Vương Nặc): Phê bình sinh thái là một khuynh hướng phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm.

2. Ba chặng đường phát triển của phê bình sinh thái thế giới được luận án phân chia ra sao?

  • Chặng 1 (1972 – 1991): Thời kỳ manh nha, khởi đầu từ công trình của J. W. Meeker (1972), thuật ngữ do William Rueckert xác lập (1978), đến các công trình của J. Bate, C. Glotfelty, G. Love.
  • Chặng 2 (1992 – 2004): Thời kỳ bùng nổ lý thuyết, đánh dấu bằng sự ra đời của Hội nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE, 1992), cùng các chuyên luận nền tảng của L. Buell, C. Glotfelty, H. Fromm, G. Garrard.
  • Chặng 3 (2005 – nay): Thời kỳ hoàn thiện và mở rộng liên ngành, phát triển mạnh mẽ về lý thuyết và phạm vi nghiên cứu xuyên quốc gia, kết hợp tâm lý học, hậu thuộc địa và nghiên cứu đô thị.

3. Phương diện giải cấu trúc của phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam gồm những yếu tố nào?

Tác giả xác định ba phương diện giải cấu trúc trọng tâm:

  1. Phi trung tâm (Decentralization): Lật đổ tư tưởng nhân loại trung tâm, đưa tự nhiên về vị thế bình đẳng với con người và phản ánh hiện thực phân mảnh.
  2. Cái chết của chủ thể – tính liên chủ thể: Phá vỡ quan niệm con người là chủ thể duy nhất thống trị vạn vật, thiết lập quan hệ tương tác liên chủ thể giữa con người và thế giới phi nhân loại.
  3. Tính đối thoại: Xóa bỏ tính áp đặt đơn thoại, mở ra sự đối thoại đa chiều giữa con người, tự nhiên và văn bản.

4. Hệ thống nhân vật tiểu thuyết được phân chia thành những kiểu dạng nào theo chuẩn tắc đạo đức sinh thái?

Luận án phân chia thành ba kiểu nhân vật cơ bản:

  1. Nhân vật xâm phạm tự nhiên: Thể hiện tư tưởng nhân loại trung tâm, khai thác hủy hoại môi trường hoặc ngộ nhận về quy luật sinh tồn.
  2. Nhân vật nạn nhân sinh thái: Gồm nông dân/người nghèo (sinh thái giai cấp), thị dân/trí thức (sinh thái đô thị) và nữ giới (sinh thái nữ quyền).
  3. Nhân vật thức tỉnh: Mang tâm trạng sám hối, trăn trở, tôn kính sinh mệnh, nỗ lực bảo vệ môi trường hoặc tìm về lối sống điền viên hòa hợp với thiên nhiên.

5. Vì sao luận án đặt tên giai đoạn 1986 – 2014 nhưng lại khảo sát thêm các tác phẩm giai đoạn 2015 – 2017?

Mốc 1986 – 2014 được xác định dựa trên thời điểm khởi đầu công cuộc Đổi mới văn học cho đến thời điểm nghiên cứu sinh chính thức tiếp nhận đề tài (2014). Tuy nhiên, do các vấn đề sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo, tác giả đã chủ động mở rộng phạm vi khảo sát thực tế sang các năm 2015, 2016 và 2017 nhằm đảm bảo tính cập nhật và bao quát của luận án.


Kết luận

Luận án "Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái" của Nguyễn Thùy Trang là công trình nghiên cứu hệ thống về diện mạo văn học sinh thái trong thể loại tiểu thuyết sau thời kỳ Đổi mới. Bằng việc kết hợp lý thuyết phê bình sinh thái với cảm quan giải cấu trúc hậu hiện đại, luận án đã phân tích sâu sắc quá trình chuyển biến nhận thức từ chủ nghĩa nhân loại trung tâm sang ý thức chỉnh thể sinh thái thông qua hệ thống nhân vật, diễn ngôn văn hóa và các huyền tích dân gian. Công trình cung cấp hệ thống tư liệu lý thuyết và thực tiễn có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam đương đại và lý luận văn học liên ngành.