CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực về vật chất và trí tuệ đề sản xuất và kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội [1]. Phát triển Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội.
Phát triển là quá trình tăng tiến về mọi mặt (biến đổi về chất) của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định theo hướng tiến bộ (không chỉ tăng về quy mô mà còn tạo sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, về xã hội, về dân cư theo hướng tiến bộ) đó là sự gia tăng về chất lượng. Theo định nghĩa của Liên hiệp Quốc: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại mà không xâm phạm tới khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”. Phát triển bền vững là thực tế phát triển đem lại các hiệu quả về kinh tế, đồng thời sự phát triển của hiện tượng không làm phá vỡ cân bằng sinh thái và có sự chấp nhận của xã hội. Phát triển sản xuất cũng được coi là quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận.
Như vậy các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh phù hợp. Trong đó có các chiến lược về sản phẩm: phải xác định được số lượng, cũng như chất lượng, chu kỳ sống của sản phẩm. Phải có chiến lược mua sắm máy móc thiết bị, lựa chọn công nghệ thích hợp. 6 Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm, nghĩa là sản phẩm được thay đổi về chủng loại với nhau.
đồng thời là thay đổi về quy mô sản xuất, thay đổi hình thức tổ chức sản xuất, thay đổi việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo hơn. Phát triển sản xuất cần chú ý đảm bảo tính bền vững tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng tới mọi nguồn tài nguyên [2]. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế = Lượng kết quả đạt được/Tổng chi phí sản xuất. Một giải phát kỹ thuật quản lý có hiệu kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất.
Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng khái quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong các điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng 7 theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn.
Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau. Mặt khác, tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp. Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian và tuy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng và sản xuất… Mặt khác, nhu cầu cũng gồm nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung. Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay.
Đối với toàn xã hội thì tiêu chẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh. Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chắc kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra [10]. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc đầu tư dài hạn có hiệu quả - Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô. Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ định hướng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh.
Bằng các chính sách đòn bẩy, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, để đi đến quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải nghiên cứu chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. - Yếu tố thị trường: trong thị trường cạnh tranh, vấn đề đặt ra với doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm phải căn cứ vào nhu cầu về sản phẩm hiện tại và tương lai của thị trường. 8 Khi xem xét thị trường, doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh.
Doanh nghiệp cần phải xem xét tình hình hiện tại, dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp nhằm trao ra lợi thế của doanh nghiệp trên thị trường. - Lãi suất tiền vay (phản ánh chi phí vốn vay) và chính sách thuế: đây là nhân tố ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả đầu tư và yếu tố lãi suất của tiền vay. Chính sách thuế cũng rất quan trọng, nó có thể khuyến khích hay hạn chế hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp phải chú ý đến thành tựu khoa học, công nghệ để hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm. Sự tiến bộ khoa học, công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải chấp nhận mạo hiểm. Nếu không, doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu và sẽ bị loại ra khỏi thị trường. - Khả năng tài chính của doanh nghiệp: mỗi doanh nghiệp đều có khả năng tài chính giới hạn bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động.
Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng để quyết định đầu tư của doanh nghiệp [11]. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển sản xuất trong nông nghiệp a. Tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất là toàn bộ những tư liệu vật chất cần thiết cho sản xuất của con người; bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong sản xuất nông nghiệp, tư liệu sản xuất là đất đai, vốn, máy móc, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực con người, nguồn lực sinh học và các phương tiện hoá học.
Trong đó, yếu tố trình độ của người lao động, đất đai và vốn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất. * Trình độ của người lao động Ở nông thôn, kiến thức chuyên môn cũng như xã hội đều thấp nên việc tiếp cận thông tin kinh tế - khoa học xã hội chậm. Ngày nay, để đạt được mục 9 tiêu công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì nhu cầu về nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao rất lớn, mặt khác yêu cầu này gây ra sức ép lớn đối với lao động có trình độ thấp. Vì vậy, nhu cầu đào tạo nguồn lao động có trình độ văn hoá, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của công việc mới tăng cao được kết hợp với việc áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra những việc làm hợp lý.
Ngược lại, nếu những chính sách tạo việc làm của Nhà nước cho người lao động không phù hợp với yêu cầu của công việc mới chương trình tạo việc làm sẽ không đạt hiệu quả cao. * Đất đai: Là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất. Đất đai trong nông nghiệp có đặc điểm: ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất là vô hạn. Mỗi quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ ruộng đất trong nông nghiệp ở mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nước.
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, nó khác tư liệu sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất nếu sử dụng hợp lý. Với nước ta, mặc dù đất chật người đông nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá lớn là 9.345,4 nghìn ha chiếm 29,4% tổng diện tích đất cả nước; đất lâm nghiệp có rừng là 11.575,4 nghìn ha chiếm 35,15% tổng diện tích đất cả nước so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34%. Tuy nhiên đất chưa sử dụng (có cả sông ngòi) còn rất nhiều 1.027,3 nghìn ha, chiếm 30,4%. Diện tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi đơn vị diện tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con người và thị trường thế giới.