PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tiền Giang thuộc khu vực Đông Bắc v ng đồng Bằng Sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hƣớng Nam, phía đông Giáp iển Đông với 32km bờ biển, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An, thành phố Hồ Chí Minh. Nằm ở vị trí trọng yếu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Tiền Giang, Kiên Giang, An Giang và TP. Cần Thơ), Tiền Giang có diện tích tự nhiên là 251.061 ha, bằng 0,79% diện tích cả nƣớc và bằng khoảng 6,15% diện tích v ng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Dân số năm 2019 là 1.962 ngƣời, gần bằng 1,86% dân số toàn quốc với mật độ dân số khoảng 693 ngƣời/km2. Là một tỉnh nông nghiệp, trong đó kinh tế vƣờn là thế mạnh của tỉnh Tiền Giang với nhiều sản phẩm nhƣ: sầu riêng, thanh long, ƣởi da xanh, vú sữa… là những m t hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Trong đó, trái Vú sữa Lò Rèn đƣ c nông dân tổ chức trồng theo tiêu chuẩn GlobalG.P đã có nhãn hiệu hàng hóa tập thể và chỉ dẫn địa lý Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim là loại trái cây đ c sản nổi tiếng đƣ c thị trƣờng trong và ngoài nƣớc ƣa chuộng. Hiện nay thị trƣờng trái vú sữa nói chung, đ c biệt là trái Vú sữa Lò Rèn có chiều hƣớng tốt và mở rộng trên thế giới, nhất là gần đây đã xuất khẩu sang thị trƣờng Hoa K.
Tuy nhiên tình hình sản xuất vú sữa tại tỉnh Tiền Giang thời gian qua vẫn chƣa phát huy l i thế, còn manh mún, nhỏ lẽ, thiếu tập trung, hiệu quả không cao; những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới chƣa đƣ c nhà vƣờn áp dụng rộng rãi, sản xuất phổ biến theo kinh nghiệm; việc gắn kết giữa sản xuất tiêu thụ chƣa ch t chẽ làm giảm sức cạnh tranh của trái vú sữa trên thị trƣờng. Từ năm 2016 đến nay, tình hình xâm nhập m n sâu, hạn hán tại Tiền Giang diễn biến ngày càng phức tạp, cơ sở hạ tầng thủy l i, giao thông đầu tƣ thiếu đồng bộ. điều này đã ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của Tiền Giang nói chung và vùng trồng vú sữa nói riêng. Trong thực tế ngƣời nông dân muốn khôi phục lại sản xuất, phát triển vùng chuyên canh Vú sữa Lò Rèn nhƣng g p nhiều khó khăn nhƣ vốn thiếu vốn đầu tƣ, chƣa tìm đƣ c mô hình sản xuất hiệu quả; ảnh hƣởng bởi biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt, thiếu thông tin thị trƣờng tiêu thụ.
Bên cạnh đó, tình hình ng nổ các 1 Luan van trƣờng h p nhiễm độc thực phẩm do nhiều nguyên nhân nhƣ còn dƣ hóa chất, dƣ lƣ ng kháng sinh trong các sản phẩm nông sản và kém vệ sinh… đã làm gia tăng mối lo ngại về an toàn vệ sinh thực phẩm của ngƣời tiêu d ng c ng nhƣ các cơ quan quản lý tại vùng chuyên canh loại trái cây đ c sản này của địa phƣơng. Từ thực tiễn đ t ra yêu cầu phải nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận và thực tiễn để đề ra giải pháp giải quyết những khó khăn cho tỉnh Tiền Giang trong quá trình phát triển vùng chuyên canh Vú sữa Lò Rèn, tác giả chọn đề tài “Phát triển vùng chuyên canh cây Vú sữa Lò Rèn theo tiêu chuẩn GlobalG.P tại tỉnh Tiền Giang” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Trƣờng Đại học sƣ phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ trái cây trên thế giới những năm qua có ngiều công trình nghiên cứu trên các quốc gia khác nhau.
Đều này cho thấy ngành sản xuất trái cây đang đƣ c sự quan tâm, đầu tƣ phát triển của các nƣớc trên thế giới. Theo Agyapong, Leslie Adwoa (2017), đã nghiên cứu tác động của Chứng nhận Thực hành Nông nghiệp Tốt Toàn cầu (GLOB LG P) đối với Chất lƣ ng và An toàn của Dứa và Xoài tƣơi ở các thành phố Nam Akuapim và Yilo Krobo của Ghana. Tác giả đã nhận định an toàn và chất lƣ ng của trái cây là mối quan tâm lớn của nhà vƣờn lẫn ngƣời tiêu d ng, do đó, các cuộc điều tra đã đƣ c tiến hành để đánh giá tác động của chứng nhận GLOB LG. P đối với trái cây tƣơi (Dứa và xoài).
Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của các cơ quan quản lý để thiết lập các tiêu chuẩn đảm bảo rằng trái cây tƣơi an toàn để tiêu thụ, bằng cách khuyến khích nông dân áp dụng GLOBALG.P ho c bất k tiêu chuẩn an toàn thực phẩm nào khác và nông dân nên đƣ c giám sát để đảm bảo rằng họ c ng áp dụng GAP thực hành nông nghiệp tốt để giảm ô nhiễm vi sinh trên quả dứa và xoài. Điều này c ng khẳng định thêm cho định hƣớng phát triển vùng chuyên canh Vú sữa Lò Rèn theo tiêu chuẩn GlobalG.P tại Tiền Giang là hƣớng đi đúng đắn trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ trái cây Việt Nam nói chung và trái Vú sữa Lò Rèn nói riêng là một trong những chủ đề phổ biến đƣ c nhiều nhà nghiên cứu đ c biệt quan tâm. Bởi thông qua việc tham khảo các kết quả nghiên cứu, ngƣời nông dân, các doanh nghiệp trong ngành trồng cây ăn trái có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên hiệu quả hơn, các nhà hoạch định chính sách sẽ nắm rõ hơn các hạn chế trong quá trình xây dựng các quy hoạch phát triển, từ đó có đƣ c những chính sách hỗ tr kịp thời và xác đáng cho nông dân và doanh nghiệp trong ngành.
Trên thực tế có rất nhiều các yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất, tiêu thụ trái Vú sữa Lò Rèn hiện nay. Trong đó phải kể đến là quy mô sản xuất còn thiếu tập trung, tự phát theo nhu cầu thị trƣờng, không tính đến phát triển bền vững của ngƣời nông dân và doanh nghiệp trong lĩnh vực này, hệ thống canh tác thiếu sự đầu tƣ và dịch vụ các yếu tố đầu vào, thiếu quy hoạch và với thị trƣờng, chất lƣ ng không đảm bảo, từ đó dẫn đến hiệu quả không cao. Phan Văn Nhẫn (2014), đã nghiên cứu về kinh tế vƣờn ƣớc đầu đã cung cấp những luận cứ khoa học nhằm chứng minh làm rõ kinh tế vƣờn là một bộ phận cấu thành nền tảng của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, có vai trò quan trọng trên nhiều m t của phát triển kinh tế - xã hội. Dự án đã đề xuất đƣ c hệ thống quan điểm, mục tiêu, phƣơng hƣớng, giải pháp mang tính đột phá, khả thi về phát triển kinh tế vƣờn, trong đó có ngành trồng cây ăn trái.
Tuy nhiên, Dự án chỉ mới đi vào nghiên cứu thực trạng kinh tế vƣờn ở Đồng bằng Sông cửu Long và chứng minh vai trò to lớn của nó trên các m t đời sống xã hội trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai; các giải pháp đề ra mang tính định hƣớng để phát triển kinh tế vƣờn trong thời gian tới nhƣ tạo đột phá, mở rộng vùng sản xuất cây ăn trái tập trung, quy mô lớn, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực làm vƣờn. Tác giả c ng chỉ ra đƣ c giải pháp về lâu dài phải giải quyết đƣ c giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch, phát triển du lịch, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với các giải pháp, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc, đảm bảo hài hòa các l i ích giữa các chủ thề có liên quan đến lĩnh vực kinh tế vƣờn mà trƣớc hết là đối với nông dân. Song, các giải pháp trên chỉ dừng lại ở định hƣớng chung và tập trung chủ yếu vào định hƣớng phát triển thị trƣờng, chƣa đi sâu vào phát triển sản xuất và an 3 Luan van toàn, vệ sinh thực phẩm trong sản xuất. Đây c ng chính là những gì Luận văn “Phát triển vùng chuyên canh cây Vú sữa Lò Rèn theo tiêu chuẩn GlobalG.P tại tỉnh Tiền Giang” sẽ kế thừa, tiếp tục phân tích, đề ra giải pháp thực hiện cụ thể đối với trái Vú sữa Lò Rèn trên đất Tiền Giang.
Theo Nguyễn Trần Nhật Tiến (2014), đã làm rõ những vấn đề phát triển cây ăn trái chủ lực của Tiền Giang. Theo đó tác giả chỉ ra các luận cứ về thổ nhƣỡng để xác định Tiền Giang cần ƣu tiên quy hoạch vùng sản xuất cây ăn trái trên cơ sở xác định vùng thích nghi, phƣơng án quy hoạch kiểm soát l và các dự án thủy l i ứng phó biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng, từ đó hình thành 3 vùng chuyên canh cây ăn trái tại Tiền Giang. Tác giả c ng chỉ ra rằng, việc chọn đúng v ng, đầu tƣ đúng trọng điểm sẽ tạo đƣ c động lực phát triển cho ngành cây ăn trái tỉnh Tiền Giang. Dự án đã g i mở hƣớng phát triển trái Vú sữa Lò Rèn về cả chiều rộng và chiều sâu là phát triển vùng chuyên canh cây Vú sữa Lò Rèn – một loại trái cây chủ lực của Tiền Giang theo tiêu chuẩn GlobalG.P là hƣớng đi đúng đắn, phù h p thực tế và xu hƣớng phát triển của loại cây ăn trái chủ lực này đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.
Một nghiên cứu khác của Ngô Văn Thạo (2016), đã cho rằng doanh nghiệp và xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam (tiền thân là các h p tác xã và tổ h p tác sản xuất nông nghiệp) hiện nay đã cung cấp yếu tố đầu vào, dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ nông sản cho các nông hộ thành viên; các luận cứ khoa học để ngành nông nghiệp v ng Đồng bằng Sông Cửu Long c ng nhƣ Tiền Giang tham khảo, hoạch định chính sách phát triển h p tác xã và tổ h p tác nông nghiệp theo mô hình doanh nghiệp xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về tiêu thụ khi sản xuất cây ăn trái nói chung và trái Vú sữa Lò Rèn nói riêng tại tỉnh Tiền Giang theo quy mô lớn, tập trung.