MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chƣơng trình mang tính chiến lƣợc về đầu tƣ và phát triển con ngƣời của riêng mình theo một nguyên tắc chung là: Đặt con ngƣời vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thừa nhận vai trò quan trọng và quyết định của nhân tố con ngƣời trong phát triển kinh tế - xã hội vừa mang ý nghĩa bƣớc ngoặt của tƣ duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng mới cho tất cả các nƣớc. Trong xu hƣớng toàn cầu một mặt tọa điều kiện thuận lợi cho mỗi quốc gia phát triển đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các quốc gia nhƣ vấn đề nghèo đói, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trƣờng.
Muốn nắm bắt đƣợc thời cơ, giảm thiểu nguy cơ, tất cả các quốc gia đều phải huy động mọi nguồn lực của đất nƣớc, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực và các nguồn vốn nội tại; quan tâm đên phát triển nền kinh tế tri thức, có khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế. Đây là nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong quá trình phát triển, tăng trƣởng kinh tế. Nhận thức vai trò phát triển con ngƣời và phát triển nguồn nhân lực, Hồ Chủ tịch đã từng nói “vì lợi ích mƣời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngƣời” và “muốn có chủ nghĩa xã hội thì phải có con ngƣời xã hội chủ nghĩa”. Lớp ngƣời mới phải là những ngƣời biết sống theo phƣơng châm “mình vì mọi ngƣời, mọi ngƣời vì mình”.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò to lớn của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa đất nƣớc, Đảng ta luôn luôn chỉ đạo “lấy việc phát huy yếu tố con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn chú trọng phát huy nhân tố con ngƣời, coi con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội. Đại hội Đảng lần thứ VIII (6 - 1996) đã đƣa ra một quan điểm về công nghiệp hóa hiện đại hóa là: “ Lấy việc phát huy nguồn con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững”; “Nâng cao dân trí, bồi dƣỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngƣời Việt Nam là nhân tố quyết định 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thắng lợi của công nghiệp hóa – hiện đại hóa”. Với lợi thế dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lƣợng lao động tƣơng đối trẻ, đây là điều kiện thuận lợi để đất nƣớc ta thực hiện thành công Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 1011 – 2020.
Theo báo cáo điều tra lao động việc làm 6 tháng đầu năm 2011 của Tổng cục thống kê cho thấy, đến thời điểm 1/7/2011 cuối quý 2, cả nƣớc có 51,33 triệu ngƣời từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lƣợng lao động, chiếm 58,4% tổng dân số, bao gồm 50,38 triệu ngƣời có việc làm 0,95 triệu ngƣời thất nghiệp. Trong tổng số lực lƣợng lao động của cả nƣớc, nữ chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới (48,3% so với 51,7% ). Mặc dù cónhững lợi thể về dân số đông, lao động dồi dào và trẻ, nhƣng đề thực hiện thành công chiến lƣợc phát triển kinh tế thì việc phát triển nguồn nhân lực trẻ có ý nghĩa vô cùng to lớn. Bên cạnh mặt số lƣợng, cần chú ý đến chất lƣợng nguồn nhân lực và những yếu tố phi kinh tế nhƣ vốn xã hội đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ là vô cùng quan trọng.
Đề tài “Tạo dựng và phát triển vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ thành phố Hà Nội hiện nay” đƣợc chọn nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vốn xã hội cũng nhƣ thực trạng tạo dựng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ ở Hà Nội hiện nay. Trên cơ sở đó Nhà nƣớc định hƣớng việc tạo dựng và sử dụng vốn xã hội nhƣ một công cụ, một nguồn lực quan trọng trong mọi lĩnh vực xã hội một cách chủ động, có tính lý luận và lành mạnh. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới Vốn xã hội (cosial Capital) đƣợc quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác nhƣ vốn kinh tế, vốn văn hóa (Bourdieu, 1986).
Nhà xã hội học ngƣời Mỹ Lyda Judson Hanifan là ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm vốn xã hội vào năm 1916. Theo ông, vốn xã hội nhƣ những thứ đƣợc tính nhiều nhất trong cuộc sống thƣờng nhật của con ngƣời đó là thiện chí, tình bằng hữu, sự đồng cảm và giao thiệp xã hội giữa cá nhân và gia đình. Bốn mƣơi năm sau, vào những năm 1960, Jane Jacobs có đề cập lại khái niệm vốn xã hội. Năm 1983, Pierre Bourdieu đã soạn thảo ra một lý thuyết riêng về vốn xã hội Bourdieu phân biệt ba loại vốn: vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bài viết “Vốn xã hội và xã hội dân sự” (Social Capital and Civil Society) của Francis Fukuyama – Viện nghiên cứu chính sách công thuộc trƣờng Đại học George Mason, 1/11/1999 đã đề cập tới mối quan hệ giữa vốn xã hội và xã hội dân sự. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề nhƣ: vốn xã hội là gì? Vai trò, chức năng của vốn xã hội trong thị trƣờng dân chủ tự do? Làm thế nào để đo lƣờng vốn xã hội? Vốn xã hội có từ đâu? Làm thế nào để tăng cƣờng vốn xã hội v.v… Bài viết khẳng định vai trò của vốn xã hội nhƣ những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, cũng nhƣ trong cuộc sống hay trong hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm đƣợc nhiều chi phí giao dịch nhờ vào vốn xã hội của họ. Bài viết có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là tài liệu tham khảo có giá trị cho luận văn [35].
Báo cáo: “ Vai trò của vốn xã hội trong phát triển – Một đánh giá dựa trên kinh nghiệm” (The role of social capital in development – An empirical assessment) Đại học Cambridge viết đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn xã hội qua việc khảo sát vốn xã hội ơ nhiều quốc gia khác nhau. Báo cáo đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản nhƣ: Vốn xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô, 1 Social capital and poverty: a microeconomic perspective mối quan hệ giữa 2 Social capital, growth, and poverty: a survey vốn xã hội, tăng trƣởng và nghèo đói; tof cross – country evi tác động của vốn xã hội đến phát triển: vốn xã hội và công ty/doanh nghiệp; Part 3 The creation and transformation of social capital vấn đề xây dựng và chuyển đổi vốn xã hội; v7 The impact of development assistance on social vốn xã hội và gắn kết xã hội; ảnh hƣởng của vốn xã hội đến các hiện tƣợng lệch chuẩn trong xã hội; phân loại các hình thức vốn xã hội. Qua những nghiên cứu thực tiễn ở nhiều nƣớc trên thế giới, những vấn đề phong phú về các vấn đề liên quan đến vốn xã hội, tài liệu là nguồn cứ liệu phong phú, có giá trị cho việc thực hiện các nghiên cứu tiếp theo về vị trí, vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển xã hội [33]. Nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các hộ gia đình ở Indonesia” của Grootaert (1999), trong bài viết tác giả tập trung bàn về vai 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô.
Nhờ có vốn xã hội giúp các hộ gia đình ở đây giảm khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo. Grootaert nhấn mạnh, vốn xã hội mang lại lợi ích dài lâu đối với các hộ gia đình thông qua việc tiếp cận dịch vụ tín dụng để tạo ra nguồn thu ổn định [32]. Nghiên cứu “Vốn xã hội và phát triển kinh tế: Hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” của Woolcokl (1998), “Vốn xã hội: Hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” của Woolcock và Narayan (2000), “Vị trí của vốn xã hội trong việc lý giải những kết quả kinh tế xã hội” của Woolcock (2001). Qua các bài viết các tác giả đã phân biệt 2 loại vốn xã hội là vốn xã hội “co cụm” là loại vốn bên trong và loại vốn xã hội “vƣơn” ra bên ngoài.
Trong đó vốn xã hội co cụm vào trong tồn tại trong các nhóm, cộng đồng và những cá nhân thuộc nhóm, cộng đồng đó có những đặc điểm tƣơng đồng. Vốn xã hội bên trong thì tốt trong những tình huống cá nhân muốn duy trì tình hình kinh tế đã có. Trong khi vốn xã hội vƣơn ra bên ngoài tồn tại trong những quan hệ xã hội giữa các cá nhân vƣợt ra bên ngoài giới hạn các nhóm, cộng đồng đồng nhất. Vốn xã hội vƣơn ra bên ngoài giúp cho các cá nhân vƣơn lên phía trƣớc.
Vốn xã hội đƣợc quan tâm nghiên cừu sớm ở các nƣớc phát triển. Có rất nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong các chiến lƣợc phát triển doanh nghiệp nói riêng. Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài luận văn tác giả chỉ xin giới thiệu một số bài viết, đề tài nghiên cứu cơ bản trên. Nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vốn xã hội.
Từ những công trình mang tính tổng quan về các quan điểm và lý thuyết vốn xã hội, cho tới các công trình nghiên cứu đánh giá tác động của vốn xã hội trên các mặt kinh tế, xã hội. Khi bàn về khái niệm và lý thuyết vốn xã hội có thể kể đến các tác giả tiêu biểu nhƣ Trần Hữu Dũng, Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh, Nguyễn Tuấn Anh… bên cạnh việc giới thiệu các quan điểm khác nhau của nhiều học giả trên thế giới các tác giả cũng trình bày và đƣa ra nhận định, bình luận của mình về vốn xã hội. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những nghiên cứu trên là cơ sở lý luận cho những nghiên cứu mang tính ứng dụng vốn xã hội ở Việt Nam. Trần Hữu Dũng, với bài viết “Vốn xã hội và kinh tế”(Trần Hữu Dũng, 2003).