Tổng quan luận án
Tên luận án: Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Hướng tiếp cận: Hỗn hợp (kết hợp điều tra định lượng, quan sát định tính, phỏng vấn sâu và thực nghiệm sư phạm)
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Luận án xuất phát từ luận điểm rằng ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp vừa là công cụ tư duy; trong giáo dục mầm non, phát triển vốn từ (PTVT) được xác định là nhiệm vụ hàng đầu. Giai đoạn 3 – 4 tuổi được xem là thời điểm trẻ phát triển nhanh về mọi phương diện ngôn ngữ: số lượng từ, cơ cấu từ loại và khả năng hiểu nghĩa từ. Hoạt động khám phá khoa học (KPKH) được đánh giá có nhiều lợi thế so với các hoạt động khác ở trường mầm non trong việc tạo môi trường ngôn ngữ tích cực, song thực tế ghi nhận rằng giáo viên (GV) thường chú trọng mục tiêu phát triển nhận thức mà ít quan tâm đến PTVT. Thêm vào đó, việc PTVT chưa được đặt trong tính hệ thống và chưa có nhiều cơ hội cho trẻ giao tiếp, chia sẻ trong các hoạt động KPKH. GV còn gặp khó khăn trong việc vận dụng biện pháp PTVT thông qua loại hoạt động này.
Tác giả xác định khoảng trống: mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về PTVT và về tổ chức hoạt động KPKH riêng lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về tổ chức hoạt động KPKH như là phương tiện để PTVT cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại Việt Nam.
Mục tiêu, câu hỏi/giả thuyết nghiên cứu
Mục tiêu: Nghiên cứu đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ mẫu giáo (MG) 3 – 4 tuổi, góp phần giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để giao tiếp, học tập và nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng và thực hiện các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 – 4 tuổi một cách có hệ thống — từ thiết kế hoạt động và môi trường theo mục tiêu PTVT, tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm khám phá trực tiếp, sử dụng từ một cách tích cực và thường xuyên trong ngữ cảnh có ý nghĩa, đồng thời phối hợp tốt giữa gia đình và nhà trường — thì sẽ giúp trẻ phát triển vốn từ tốt hơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được tác giả đánh số):
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.
- Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở các trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình giáo dục PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở trường mầm non.
- Đối tượng: Biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi (bao gồm vốn từ tiếp nhận và vốn từ biểu đạt).
- Không gian: 15 trường mầm non công lập tại tỉnh Thanh Hóa (05 trường thuộc thành phố, 10 trường thuộc nông thôn và miền núi).
- Mẫu khảo sát thực trạng: 210 GV và 120 trẻ 3 – 4 tuổi tại 04 trường (Trường mầm non Lam Sơn TP. Thanh Hóa; Trường mầm non Thực Hành – Đại học Hồng Đức TP. Thanh Hóa; Trường mầm non Hợp Thắng – Huyện Triệu Sơn; Trường mầm non Lương Sơn – Huyện Thường Xuân).
- Mẫu thực nghiệm: 120 trẻ MG 3 – 4 tuổi tại 02 trường mầm non.
- Thời gian khảo sát thực trạng: Tháng 01/2019 đến tháng 04/2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước, được tổ chức theo năm hướng chính đối với PTVT và hai hướng chính đối với tổ chức hoạt động KPKH.
Các hướng nghiên cứu về PTVT cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Hướng 1 – Tốc độ PTVT: Owens (1986) ghi nhận trẻ 3 tuổi tiếp thu khoảng 900 – 1.000 từ, đến 4 tuổi đạt 1.500 – 1.600 từ; Gard, Gilman và Gorman (1993) đưa ra con số 425 – 900 từ ở 3 tuổi và 1.500 từ ở 4 tuổi; Linda Clark và Catherine Ireland (1994) mô tả sự mở rộng vốn từ rõ rệt từ 3 đến 4 tuổi. Trên ngữ liệu tiếng Việt, Lưu Thị Lan (1996) xác định trẻ 3 tuổi có 486 từ, tăng 107% vào cuối 3 tuổi, nhưng cuối 4 tuổi chỉ tăng thêm 40,58% (khoảng 1.035 từ); Nguyễn Xuân Khoa (1999) cho rằng trẻ 3 tuổi sử dụng được 1.300 từ và trẻ 4 tuổi khoảng 1.900 – 2.000 từ; Nguyễn Thị Phương Nga (2006) ước tính trẻ 3 tuổi sử dụng trung bình khoảng 1.000 từ; Nguyễn Thị Hiên và Nguyễn Thị Tươi ghi nhận 1.800 – 1.835 từ.
Hướng 2 – Quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức: Vygotsky nhấn mạnh ngôn ngữ là công cụ tâm lí quan trọng nhất, hoạt động tinh thần là kết quả học tập mang tính xã hội; Tikheeva khẳng định PTVT phải gắn với phát triển nhận thức; Lee Yun Gyung xác lập mối tương quan giữa ngôn ngữ với kĩ năng điều khiển hành động và nhận thức; Morgan (L. Morgan) và cộng sự chỉ ra rằng lỗ hổng vốn từ bắt đầu xảy ra từ 2 tuổi và làm tăng nguy cơ phát triển kém về khả năng đọc. Ở Việt Nam, Nguyễn Huy Cẩn và Lưu Thị Lan nghiên cứu đặc điểm phát âm, tỉ lệ từ loại và lỗi sai trong lời nói trẻ; Nguyễn Thị Oanh khẳng định trẻ học nghĩa từ thông qua tiếp xúc tích cực với truyện tranh và miêu tả đồ chơi.
Hướng 3 – Các yếu tố ảnh hưởng: Van Kleeck, A.; Hoff E.; Catherine L. Taylor, Daniel Christensen, David Lawrence, Francis Mitrou, Stephen R. và đồng nghiệp xác định các yếu tố như trình độ học vấn của người mẹ, tâm lí của người mẹ, tâm lí bất thường của trẻ ảnh hưởng rõ rệt đến vốn từ. Lưu Thị Lan bổ sung yếu tố bộ máy phát âm, môi trường văn hóa – giáo dục gia đình và nhà trường.
Hướng 4 – Đánh giá vốn từ: Nhóm Douglas M. Dunn, Lloyd và Leota Dunn phát triển "Peabody Picture Vocabulary Test"; Bracken xây dựng "Bracken Basic Concept Scale"; Biemiller và Slonim (2001), Vinco (2013) phát triển "Test of Preschool Early Literacy (TOPEL)" và "Preschool Assessment of Vocabulary: Expressive and Receptive (PAVER)". Pham, G. (2018) xây dựng công cụ đánh giá vốn từ tiếp nhận và biểu đạt cho trẻ nói tiếng Việt (công bố trên tạp chí của Hiệp hội Lời nói – Ngôn ngữ – Thính giác Hoa Kì, 2019).
Hướng 5 – Phương pháp, biện pháp PTVT: Miller, P. A. nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ tự thoại; Tikheeva E. I. đề xuất hệ thống 10 bài tập mở rộng và phát triển ý nghĩa từ vựng; Smith nghiên cứu phương pháp kích thích hứng thú qua hoạt động trồng cây, chăm sóc cây; Lauren Lowry và Humphyryes nhấn mạnh tổ chức trải nghiệm và thảo luận. Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Oanh, Đinh Hồng Thái, Bùi Thị Lâm, Lê Thị Thanh Sang, Nguyễn Thị Minh Phương đề xuất các biện pháp phát triển ngôn ngữ chung cho trẻ mầm non.
Các hướng nghiên cứu về tổ chức hoạt động KPKH
Worth, K. và Nguyễn Thị Thu Hiền phân tích vai trò của hoạt động KPKH với phát triển toàn diện; Marilyn Fleer và Tim Hardy đưa ra hướng tiếp cận hướng dẫn trẻ KPKH; Thomas, Bloom xây dựng "ngân hàng" hoạt động KPKH; Nguyễn Thị Nga đề xuất 05 biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm phát triển khả năng suy luận cho trẻ 5 – 6 tuổi; Hoàng Thị Phương, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Thị Ngọc Trâm, Hồ Lam Hồng hướng dẫn tổ chức các nội dung KPKH cụ thể nhằm phát triển nhận thức.
Khoảng trống luận án lựa chọn
Các nghiên cứu hiện có chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống về biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi tại trường mầm non ở Việt Nam, đặc biệt chưa chú trọng đến nhóm trẻ 3 – 4 tuổi trong các nghiên cứu về phương pháp/biện pháp PTVT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án sử dụng khái niệm từ theo Đỗ Hữu Châu: "từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu." Khái niệm vốn từ được tiếp nhận theo Lê Hữu Tỉnh: "toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp." Từ đó luận án định nghĩa vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi là toàn bộ các từ được lưu giữ dưới dạng tiếp nhận (hiểu nghĩa) hoặc biểu đạt (sử dụng được).
PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi được định nghĩa là quá trình sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp trẻ gia tăng số lượng từ, hiểu nghĩa (vốn từ tiếp nhận) và sử dụng từ (vốn từ biểu đạt) trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Khái niệm này kế thừa quan điểm của Trịnh Thị Hà Bắc, Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức, và Nguyễn Thị Phương Nga.
Hoạt động KPKH của trẻ MG 3 – 4 tuổi được xác định là quá trình trẻ trực tiếp tham gia tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan thông qua nhiều hoạt động: quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, làm thí nghiệm đơn giản, thảo luận; qua đó lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và có thái độ đúng đắn. Định nghĩa này kế thừa quan điểm của Trần Thị Ngọc Trâm và Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Phương, Hoàng Thị Oanh – Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Thanh Thủy.
Luận án vận dụng bốn cách tiếp cận: tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống, tiếp cận tích hợp và tiếp cận phát triển. Để mô tả mức độ hiểu nghĩa từ, luận án sử dụng thang mức độ của Fedorenko (gồm 5 mức: từ mức độ zêrô đến mức độ 4) và chu trình học từ của trẻ: nghe → hiểu → bắt chước → nói.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp lí luận: Phân tích, tổng hợp tư liệu; hệ thống hóa và khái quát hóa lí luận để xây dựng khung lý thuyết.
Nhóm phương pháp thực tiễn:
| Phương pháp |
Mục đích |
| Quan sát |
Ghi nhận thực trạng tổ chức hoạt động KPKH và biểu hiện vốn từ của trẻ |
| Điều tra bằng phiếu hỏi |
Khảo sát nhận thức và thực hành của 210 GV |
| Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm |
Thu thập thông tin bổ sung về thuận lợi, khó khăn của GV và mức độ PTVT của trẻ |
| Thực nghiệm sư phạm |
Kiểm nghiệm tính khoa học và khả thi của các biện pháp đề xuất |
| Thang đo Pham, G. (2018) |
Đánh giá vốn từ tiếp nhận (40 từ, hệ số alpha Cronbach = 0,71) và vốn từ biểu đạt (80 từ, hệ số alpha Cronbach = 0,85) của trẻ |
| Mô tả chân dung PTVT |
Theo dõi trực tiếp sự tiến bộ về vốn từ của 02 trẻ cụ thể |
| Thống kê toán học |
Xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010 |
Nguồn tư liệu/dữ liệu
- Tài liệu khoa học trong và ngoài nước về PTVT và tổ chức hoạt động KPKH.
- Phiếu trưng cầu ý kiến GV (n = 210); biên bản quan sát giờ học; hồ sơ, sổ sách của GV.
- Kết quả đánh giá vốn từ trẻ bằng bộ công cụ Pham, G. (2018), cung cấp miễn phí tại trang web của Trường Đại học San Diego State (Mỹ) tại địa chỉ VietSLP.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Chương 1 thực hiện hai nhiệm vụ: điểm lại các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước (trình bày ở phần Tổng quan tài liệu trên) và xây dựng khung lý luận. Về lý luận, chương trình bày khái niệm và phân loại từ, vốn từ; đặc điểm vốn từ trẻ MG 3 – 4 tuổi theo ba phương diện: số lượng từ, cơ cấu từ loại và khả năng hiểu nghĩa từ. Cơ cấu từ loại được Lưu Thị Lan xác định ở trẻ 4 tuổi gồm: danh từ 37,91% → 35,36%; động từ 33,36% → 31,04%; đại từ 2,82% → 3,61%. Luận án cũng đề xuất tỉ lệ từ loại cần đảm bảo cho trẻ 3 – 4 tuổi: khoảng 38% danh từ, 32% động từ, 6,8% tính từ, 7,8% phó từ, 4,7% tình thái từ, 3,1% đại từ, 2,5% số từ, 1,7% quan hệ từ.
Chương xây dựng khái niệm, đặc điểm và ưu thế của hoạt động KPKH đối với PTVT (tạo môi trường đa dạng để tích lũy vốn từ; kích thích trẻ tương tác để sử dụng từ trong câu; mở rộng phạm vi sử dụng từ); đồng thời xác định tiến trình tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT gồm 4 bước: (1) Thiết kế hoạt động, (2) Chuẩn bị môi trường, (3) Thực hiện hoạt động, (4) Đánh giá hoạt động. Các yếu tố ảnh hưởng gồm: đặc điểm phát triển của trẻ, môi trường hoạt động, năng lực sư phạm của GV và sự phối hợp gia đình – nhà trường.
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 15 trường mầm non tỉnh Thanh Hóa.
Về nhận thức của GV:
| Nội dung |
Tỷ lệ GV xác nhận |
| PTVT cho trẻ 3 – 4 tuổi là "rất cần thiết" |
92,86% (195/210 GV) |
| Mục tiêu: giúp trẻ gia tăng số lượng từ |
100% (210/210 GV) |
| Mục tiêu: giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ |
93,81% (197/210 GV) |
| Mục tiêu: giúp trẻ sử dụng từ trong tình huống giao tiếp phù hợp |
86,19% (181/210 GV) |
| Nhiệm vụ: gia tăng số lượng từ |
100% (210/210 GV) |
| Nhiệm vụ: cơ cấu từ loại hợp lí |
91,90% (193/210 GV) |
| Nhiệm vụ: giúp trẻ hiểu nghĩa từ |
89,05% (187/210 GV) |
| Nhiệm vụ: tích cực hóa vốn từ |
85,24% (179/210 GV) |
Về thực trạng lồng ghép mục tiêu PTVT khi tổ chức hoạt động KPKH: Không có GV nào không thực hiện mục tiêu PTVT khi tổ chức hoạt động KPKH. Tuy nhiên, mục tiêu "gia tăng số lượng từ" được ưu tiên thường xuyên nhất (30,... % GV thực hiện thường xuyên), trong khi mục tiêu "trẻ biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp có ý nghĩa" được thực hiện thường xuyên thấp nhất (13,14%). Phân tích giáo án cho thấy GV không thể hiện cụ thể các mục tiêu PTVT trong kế hoạch tổ chức hoạt động, chủ yếu tập trung phát triển vốn danh từ mà chưa chú trọng vốn động từ. Trẻ chưa có nhiều cơ hội được giao tiếp, chia sẻ, diễn đạt ý tưởng trong các hoạt động KPKH.
Về đặc điểm GV khảo sát: Trình độ trung cấp 14,76%; cao đẳng 52,38%; đại học 31,90%; sau đại học 0,95%. Thâm niên dưới 5 năm chiếm 28,10%; 5 – 10 năm chiếm 32,38%; 11 – 15 năm chiếm 26,19%; từ 15 năm trở lên chiếm 13,33%.
Chương cũng trình bày thực trạng vốn từ của 120 trẻ 3 – 4 tuổi được đánh giá bằng thang đo Pham, G. (2018), trong đó có so sánh giữa trẻ thành phố và nông thôn, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp.
Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, chương 3 đề xuất hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT. Các biện pháp được xây dựng theo tiến trình 4 bước đã xác định ở Chương 1, bảo đảm thiết kế hoạt động gắn với danh mục từ cần cung cấp, xây dựng môi trường vật chất và xã hội thuận lợi, tổ chức cho trẻ quan sát – trải nghiệm trực tiếp đối tượng, tổ chức trò chuyện chia sẻ, rút kinh nghiệm sau trải nghiệm và vận dụng vốn từ trong các hoạt động khác (kể chuyện, vẽ tranh, đóng kịch). Chương kế thừa hệ thống 10 bài tập mở rộng vốn từ của Tikheeva E. I. và điều chỉnh phù hợp với đặc điểm trẻ 3 – 4 tuổi. Các hình thức tổ chức bao gồm: thông qua hoạt động chơi (cá nhân hoặc nhóm), thông qua hoạt động học (trong lớp, ngoài trời, dạo chơi, tham quan), và thông qua các hoạt động khác. Biện pháp phối hợp gia đình – nhà trường được xác định là thành phần không thể tách rời của hệ thống, trong đó GV trao đổi thường xuyên với cha mẹ về nội dung học và hướng dẫn cha mẹ ôn luyện vốn từ cho trẻ tại nhà.
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 trình bày kết quả thực nghiệm kiểm chứng các biện pháp đề xuất với 120 trẻ MG 3 – 4 tuổi tại 02 trường mầm non trong tỉnh Thanh Hóa. Vốn từ của trẻ được đánh giá trước và sau thực nghiệm bằng thang đo Pham, G. (2018) — đo vốn từ tiếp nhận (40 từ) và vốn từ biểu đạt (80 từ) — và xử lí bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel 2010. Kết quả thực nghiệm bổ trợ cho luận điểm bảo vệ rằng khi các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH được thiết kế có mục tiêu PTVT rõ ràng và tiến hành trong môi trường thuận lợi, tạo cơ hội trải nghiệm ngôn ngữ tự nhiên và thường xuyên, vốn từ tiếp nhận và biểu đạt của trẻ MG 3 – 4 tuổi được cải thiện. Ngoài kết quả nhóm, chương mô tả chân dung PTVT của 02 trẻ được theo dõi trực tiếp trong và sau quá trình thực nghiệm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu ba đóng góp mới:
-
Đóng góp lí luận: Bổ sung và làm phong phú hơn lí luận về PTVT, về hoạt động KPKH và về tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi — bao gồm việc xây dựng khái niệm, xác định nhiệm vụ, nội dung PTVT, tiến trình 4 bước tổ chức hoạt động KPKH và các yếu tố ảnh hưởng.
-
Đóng góp thực tiễn (dữ liệu thực trạng): Cung cấp thông tin về thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi của GV ở 15 trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa, làm cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu và nhà quản lí giáo dục mầm non trong xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục mầm non địa phương.
-
Đóng góp thực tiễn (biện pháp): Các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi đề xuất trong luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng GV mầm non tại tỉnh Thanh Hóa. Có thể vận dụng sáng tạo các biện pháp này ở các trường mầm non có điều kiện giáo dục tương đương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Phạm vi địa lí của nghiên cứu giới hạn trong các trường mầm non công lập tại tỉnh Thanh Hóa (15 trường), với mẫu thực nghiệm tại 02 trường. Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng khái quát hóa kết quả sang các tỉnh thành có điều kiện kinh tế – xã hội khác biệt. Bộ công cụ đánh giá vốn từ được chọn là thang đo Pham, G. (2018) — được cung cấp miễn phí và chưa được chuẩn hóa chính thức trong hệ thống giáo dục mầm non Việt Nam — do tình trạng thiếu công cụ đo vốn từ chuẩn hóa cho tiếng Việt mà tác giả thừa nhận trong văn bản. Văn bản không trình bày cụ thể các hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:
- GV mầm non và sinh viên sư phạm mầm non: Phần Chương 3 (hệ thống biện pháp) và Chương 4 (minh chứng thực nghiệm, bao gồm mô tả chân dung PTVT) cung cấp tư liệu thực hành cụ thể về cách thiết kế và triển khai hoạt động KPKH gắn với mục tiêu PTVT.
- Cán bộ quản lí giáo dục mầm non tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh có điều kiện tương đương: Phần Chương 2 (dữ liệu thực trạng tại 15 trường) và phần đóng góp mới cung cấp căn cứ thực tiễn cho việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV và phát triển chương trình giáo dục mầm non địa phương.
- Nghiên cứu sinh và giảng viên nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ trẻ em, đặc biệt ở độ tuổi 3 – 4: Chương 1 (tổng quan tài liệu và khung lý luận) cung cấp bức tranh tổng hợp về các hướng nghiên cứu PTVT quốc tế và Việt Nam.
- Nhà nghiên cứu về công cụ đánh giá ngôn ngữ tiếng Việt: Phần mô tả và vận dụng thang đo Pham, G. (2018) có thể là điểm tham chiếu cho các nghiên cứu sử dụng hoặc phát triển công cụ đánh giá vốn từ tiếng Việt chuẩn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt vốn từ tiếp nhận và vốn từ biểu đạt như thế nào, và tại sao cả hai đều được đo lường?
Vốn từ tiếp nhận (hay vốn từ thụ động) bao gồm những từ trẻ hiểu được nhưng chưa nói được; vốn từ biểu đạt (hay vốn từ tích cực) gồm những từ trẻ hiểu và sử dụng được trong giao tiếp. Theo Lê Hữu Tỉnh, vốn từ cá nhân bao gồm cả hai dạng này. "Tích cực hóa vốn từ" — tức chuyển từ vốn từ thụ động sang vốn từ tích cực — được xác định là nội dung và nhiệm vụ trọng tâm của PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi. Bộ công cụ Pham, G. (2018) đo vốn từ tiếp nhận qua 40 bài tập nhận diện hình ảnh (hệ số alpha Cronbach = 0,71) và vốn từ biểu đạt qua 80 bài tập gọi tên hình ảnh (hệ số alpha Cronbach = 0,85).
2. Lý do nào khiến tác giả chọn giai đoạn 3 – 4 tuổi là trọng tâm nghiên cứu?
Giai đoạn 3 – 4 tuổi được nhiều tác giả xác nhận là thời điểm tốc độ PTVT diễn ra rất nhanh: Owens (1986) ghi nhận trẻ tiếp thu từ 900 từ lên đến 1.500 – 1.600 từ trong giai đoạn này; Lưu Thị Lan (1996) ghi nhận mức tăng 107% về số lượng từ vào cuối 3 tuổi. Đồng thời, đây là giai đoạn trẻ có nhu cầu giao tiếp, nhận thức thế giới xung quanh và tự khẳng định bản thân mạnh mẽ. Các nghiên cứu về phương pháp/biện pháp PTVT hiện có chủ yếu tập trung vào trẻ MG lớn (5 – 6 tuổi), chưa quan tâm đúng mức đến trẻ 3 – 4 tuổi.
3. Tại sao tỉ lệ GV thực hiện mục tiêu "trẻ biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp có ý nghĩa" lại thấp nhất (13,14% thường xuyên) trong khi 100% GV nhận thức được tầm quan trọng của PTVT?
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy GV có xu hướng ưu tiên cung cấp số lượng từ (danh từ gọi tên đối tượng) hơn là tổ chức cho trẻ sử dụng từ trong ngữ cảnh có ý nghĩa. Điều này phản ánh khoảng cách giữa nhận thức và thực hành: GV biết mục tiêu nhưng chưa có biện pháp tổ chức cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu đó. Phân tích giáo án cũng xác nhận mục tiêu PTVT không được thể hiện rõ trong kế hoạch tổ chức hoạt động KPKH.
4. Thang đo Pham, G. (2018) được chọn vì lý do gì và có những giới hạn gì trong bối cảnh nghiên cứu này?
Tác giả chọn thang đo Pham, G. (2018) vì đây là công cụ được xây dựng theo quy trình chuẩn, được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu đánh giá năng lực ngôn ngữ của trẻ nói tiếng Việt được công bố trong khoảng 5 năm gần đây tính đến thời điểm nghiên cứu. Hệ số alpha Cronbach của cả hai phần (vốn từ tiếp nhận: 0,71; vốn từ biểu đạt: 0,85) đạt mức đủ độ tin cậy. Giới hạn chính được tác giả thừa nhận là tình trạng thiếu công cụ đo vốn từ được chuẩn hóa chính thức cho tiếng Việt tại Việt Nam, khiến không có lựa chọn thay thế được chuẩn hóa sẵn.
5. Tiến trình 4 bước tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT được áp dụng cụ thể ra sao trong thực nghiệm?
Tiến trình gồm: Bước 1 — GV thiết kế hoạt động, lập danh mục từ cần cung cấp; Bước 2 — GV chuẩn bị môi trường vật chất và tinh thần; Bước 3 — thực hiện hoạt động theo trình tự: tạo cơ hội cho trẻ quan sát/trải nghiệm trực tiếp đối tượng → tổ chức trò chuyện chia sẻ (trẻ gọi tên, mô tả đặc điểm, GV phát hiện và cung cấp từ mới) → rút kinh nghiệm sau trải nghiệm → khuyến khích trẻ vận dụng từ trong các hoạt động khác (kể chuyện, vẽ tranh, đóng kịch); Bước 4 — GV đánh giá dựa trên mục tiêu PTVT và phối hợp với gia đình để củng cố vốn từ đã học. Tiến trình này kế thừa quan điểm tổ chức hoạt động theo hướng trải nghiệm của Hoàng Thị Phương.
Kết luận
Luận án xác lập một hướng nghiên cứu còn ít được khai thác ở Việt Nam: tổ chức hoạt động KPKH như là phương tiện có hệ thống để phát triển vốn từ tiếp nhận và biểu đạt cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi. Nghiên cứu xây dựng khung lý luận gắn với các khái niệm có nguồn gốc rõ ràng (Đỗ Hữu Châu, Lê Hữu Tỉnh, Fedorenko, Vygotsky, Tikheeva), đồng thời cung cấp dữ liệu thực trạng từ 210 GV và 120 trẻ tại 15 trường mầm non tỉnh Thanh Hóa. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng cách rõ ràng giữa nhận thức và thực hành của GV, đặc biệt ở mục tiêu tích cực hóa vốn từ. Hệ thống biện pháp đề xuất được kiểm nghiệm qua thực nghiệm sư phạm với mẫu 120 trẻ tại 02 trường và đánh giá bằng thang đo Pham, G. (2018). Các biện pháp và dữ liệu thực trạng mang tính ứng dụng trực tiếp cho công tác bồi dưỡng GV mầm non và xây dựng kế hoạch giáo dục tại các địa bàn có điều kiện tương đương tỉnh Thanh Hóa.