phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi; Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi; Chƣơng 3: Biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi; Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi PTVT là nội dung đƣợc quan tâm trong các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nói chung, trẻ MG 3 - 4 tuổi nói riêng.
Những nghiên cứu về vấn đề này, tập trung theo các hƣớng sau đây: Thứ nhất: Những nghiên cứu về tốc độ PTVT của trẻ MG 3-4 tuổi Ở hƣớng này có thể kể đến các tác giả tiêu biểu nhƣ: Owens [69]; Gard. Các tác giả trên đều khẳng định bƣớc vào giai đoạn 3-4 tuổi, trẻ có tốc độ phát triển nhanh về vốn từ. Tuy nhiên, mỗi tác giả đƣa ra các nghiên cứu khác nhau về số lƣợng và chất lƣợng từ cụ thể mà trẻ đạt đƣợc. Tác giả Owens (1986) cho rằng: “đến 3 tuổi, hầu nhƣ trẻ đều sử dụng đƣợc các câu đơn từ 3 đến 4 từ, tiếp thu khoảng 900-1000 từ; VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ đƣợc mở rộng.
Đến 4 tuổi, trẻ đã thành thạo ngữ pháp cơ bản, tiếp thu khoảng 1500-1600 từ và đa dạng các loại câu hỏi” [69]. Tác giả Gard, Gilman và Gorman (1993) cho rằng: “số lƣợng từ của trẻ 3 tuổi: 425 - 900 từ, 4 tuổi: 1500 từ” [58]. Mặc dù không chỉ rõ số lƣợng từ mà trẻ có đƣợc ở độ tuổi 3 - 4 nhƣng tác giả Linda Clark & Catherine Ireland (1994) khẳng định rằng: “ở thời điểm 3 tuổi, trẻ đã có thể nhớ đƣợc những việc xảy ra hôm qua, lên kế hoạch cho ngày mai, phát âm đã khá hoàn thiện, trẻ có thể nhận thức đƣợc ngƣời lạ khoảng 85%, có khả năng dùng danh từ để đặt tên đồ vật, dùng tính từ để miêu tả đồ vật; khi đƣợc 4 tuổi, vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt, câu hỏi của trẻ về sự vật, hiện tƣợng trong thế giới xung quanhphức tạp hơn, trẻ đã dần nắm đƣợc quy luật của việc dùng từ (khi nào dùng “một”, khi nào dùng “những”)” [64]. Điều này cũng thể hiện tốc độ PTVT của trẻ MG 3 – 4 tuổi là rất nhanh.
9 Trên ngữ liệu tiếng Việt, tác giả Lƣu Thị Lan, Nguyễn Xuân Khoa, Nguyễn Thị Phƣơng Nga, Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Tƣơi đã nghiên cứu và đƣa ra các thông tin về số lƣợng từ trẻ mà trẻ 3- 4 tuổi có đƣợc. Cụ thể, tác giả Lƣu Thị Lan (1996) cho rằng: “đến 3 tuổi, trẻ có số lƣợng từ là 486, đến cuối 3 tuổi thì số lƣợng từ của trẻ tăng lên 107%; nhƣng cuối 4 tuổi, số lƣợng từ của trẻ chỉ tăng 40,58% so với lúc đầu của 4 tuổi (khoảng 1035 từ)” [20]. Nguyễn Xuân Khoa (1999) cho rằng: “đến 3 tuổi, trẻ sử dụng đƣợc 1300 từ, trong đó phần lớn là danh từ và động từ; khi 4 tuổi, vốn từ của trẻ vào khoảng 1900 – 2000 từ, danh từ, động từ vẫn chiếm ƣu thế, còn tính từ, các từ loại khác ít sử dụng” [17]. Nguyễn Thị Phƣơng Nga (2006) cho rằng: “Ngôn ngữ của trẻ 3 tuổi phát triển rất nhanh, vốn từ của trẻ tăng gấp 5 lần so với lúc 2 tuổi, trẻ có khả năng sử dụng trung bình khoảng 1000 từ, các từ sử dụng có thể phân chia một cách ƣớc lệ nhƣ sau: 60% danh từ, 20% động từ, 10% danh từ riêng và 10% các từ loại khác nhau nhƣ tính từ, đại từ.
Nguyễn Thị Hiên và Nguyễn Thị Tƣơi cho rằng: “số lƣợng từ mà trẻ tích lũy đƣợc là khoảng 1800 – 1835” [12]. Sở dĩ có nhiều kết quả khác nhau về tốc độ phát triển từ của trẻ MG 3-4 tuổi nhƣ trên là do các tác giả nghiên cứu vào các thời điểm khác nhau, với đối tƣợng trẻ ở các vùng miền khác nhau. Thêm nữa, kết quả này còn phụ thuộc vào VT mà tác giả đề cập là VT tiếp nhận hay VT biểu đạt. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều khẳng định, tốc độ PTVT của trẻ ở giai đoạn 3 - 4 tuổi diễn ra nhanh.
Đây là thời điểm quan trọng để tổ chức hoạt động thúc đẩy sự PTVT cho trẻ. Thứ hai: Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em Ở hƣớng này có thể kể đến các tác giả tiêu biểu nhƣ: L. Morgan [70]… Các tác giả trên đều khẳng định có mối quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em.Vygotsky nhấn mạnh, ngôn ngữ là công cụ tâm lí quan trọng nhất của một nền văn hóa. Theo ông: “hoạt động tinh thần của con ngƣời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là học tập mang tính cá thể.
Khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với ngƣời lớn và bạn 10 cùng trang lứa có năng lực cao hơn; những ngƣời giúp đỡ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên mà qua đó con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, là phƣơng tiện vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy” [46]. Tikheeva cho rằng: “PTVT hay phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải luôn gắn với việc phát triển nhận thức của trẻ. Nếu nhƣ trẻ phát triển bình thƣờng thì về mặt ngôn ngữ, mỗi từ mà trẻ học đƣợc sẽ tƣơng ứng với một biểu tƣợng mà trẻ đã thu nhận trƣớc đó” [39].
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, khả năng giao tiếp, nhận thức và xã hội, Lee Yun Gyung cho rằng: “có mối tƣơng quan giữa ngôn ngữ với kĩ năng điều khiển hành động, cử chỉ; ngôn ngữ với nhận thức” [63]. “Ngôn ngữ là một trong nhiều hình thức thể hiện tinh thần, là một trong những công cụ thể hiện tƣ duy, là yếu tố hỗ trợ sự phát triển tƣ duy; quá trình phát triển ngôn ngữ sẽ kéo theo sự phát triển tƣ duy, trí tuệ của trẻ” [53]. Nghiên cứu của tác giả Paul. Morgan và cộng sự đã chỉ rõ, “một trong các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng ngôn ngữ của trẻ là sự thiếu VT trong diễn đạt cảm xúc, ý tƣởng.
Lỗ hổng vốn từ thƣờng bắt đầu xảy ra với trẻ lúc 2 tuổi và điều này làm tăng nguy cơ phát triển kém về khả năng đọc sau này” [70]. “Số lƣợng từ mà trẻ có sẽ quyết định khả năng giao tiếp của trẻ; trẻ biết càng nhiều từ thì sẽ càng lĩnh hội đƣợc nhiều thông tin, cơ hội tiếp xúc với môi trƣờng xung quanh càng nhiều” [62]. Trên ngữ liệu tiếng Việt, các tác giả: Nguyễn Huy Cẩn [3], [4], [5]; Lƣu Thị Lan [19], [20] nghiên cứu đặc điểm phát âm VT, tỉ lệ từ loại trẻ sử dụng, đặc điểm câu, lỗi sai thƣờng gặp trong lời nói của trẻ.; đồng thời khẳng định, sự phát triển thành tố này là điều kiện, tiền đề cho các thành tố khác của ngôn ngữ phát triển. Tác giả Nguyễn Thị Oanh [26] khẳng định: “Trẻ học tiếng mẹ đẻ nhờ những ấn tƣợng tổng quát chứ không tách bạch từng nội dung.
Trẻ học nghĩa của từ và khả năng diễn đạt bằng lời nói một cách mạch lạc thông qua việc tích cực tiếp xúc với các cuốn truyện tranh, thông qua việc miêu tả đồ chơi mà trẻ thích.” Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, ta có thể thấy nghiên cứu VT và PTVT của trẻ luôn phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển các thành tố khác của ngôn ngữ. 11 Thứ ba: Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến sự PTVT của trẻ Ở hƣớng nghiên cứu này có thể kể đến các tác giả Van Kleeck, A [78]; Hoff E [60]; Catherine L. Taylor, Daniel Christensen, David Lawrence, Francis Mitrou, Stephen R. Các tác giả đã khẳng định có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự PTVT của trẻ nhƣ: “với trẻ 3 - 4 tuổi các yếu tố gồm: trình độ học vấn của ngƣời mẹ, tâm lí của ngƣời mẹ, tâm lí bất thƣờng của trẻ, là những yếu tố ảnh hƣởng rõ rệt tới khả năng VT từ hiểu nghĩa và cách sử dụng của từ ở trẻ” [54].
Ngoài ra, yếu tố bản thân đứa trẻ cũng là ảnh hƣởng đến VT của trẻ. Theo tác giả Lƣu Thị Lan: “Các cơ quan của cơ thể trẻ liên quan đến hoạt động nói năng nhƣ: bộ máy phát âm, khả năng nghe là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển ngôn ngữ. Nếu nhƣ bản thân đứa trẻ bị khuyết tật hay không bình thƣờng các bộ phận trên thì trẻ sẽ không nói đƣợc hoặc nói rất khó khăn” [20]. Lƣu Thị Lan cũng cho rằng môi trƣờng văn hóa – giáo dục có ảnh hƣởng lớn đến VT của trẻ “Trình độ văn hóa của bố mẹ, vai trò của ngƣời lớn trong gia đình nhƣ ông bà hay anh chị, sự quan tâm giao tiếp ngôn ngữ của những ngƣời xung quanh đối với trẻ, môi trƣờng sống của trẻ ở gia đình, nhà trẻ, trƣờng MGđều có ảnh hƣởng trực tiếp tới sự PTVT của trẻ.
Các cháu có số lƣợng từ nhiều là các cháu có đủ các điều kiện tốt nói trên” [20]. Thứ tư: Về đánh giá vốn từ của trẻ Việc đánh giá VT của trẻ thƣờng tập trung vào đánh giá VT tiếp nhận (receptive vocabulary) và VT biểu đạt (expressive vocabulary), độ rộng (số lƣợng từ) và độ sâu (mức độ hiểu nghĩa của từ) VT của trẻ, khả năng học từ mới của trẻ trong giai đoạn mầm non. “Peabody Picture Vocabulary Test” (tạm dịch là: kiểm tra VT thông qua tranh “Peabody”) là một phƣơng pháp đánh giá VT tiếp nhận đƣợc sử dụng phổ biến của nhóm tác giả Douglas M. Dunn, Lloyd và Leota Dunn.
Phƣơng pháp đánh giá này, GV là ngƣời đƣa ra một bức tranh gồm 04 hình ảnh để yêu cầu trẻ chọn hình tƣơng ứng với từ vựng đƣợc kiểm tra [56]. Đây là công cụ dùng để đánh giá tiếng Anh Mỹ, đặc biệt là kiểm tra kĩ năng đọc viết của ngƣời tham gia.