Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống khoa học xã hội và nhân văn (KHXH & NV), thông tin khoa học đóng vai trò là nguồn lực then chốt, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ công tác hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như các chương trình nghiên cứu chuyên sâu. Viện Thông tin Khoa học Xã hội (trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) là một trong những trung tâm thông tin - thư viện lớn nhất cả nước, được xếp vào nhóm 6 thư viện trọng điểm được Nhà nước đầu tư tập trung theo Pháp lệnh Thư viện. Đơn vị này lưu giữ di sản tư liệu có giá trị lịch sử đặc biệt kế thừa từ Thư viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) cùng khối lượng lớn tài liệu khoa học đa ngữ được tích lũy liên tục.
Tuy nhiên, trước sự bùng nổ thông tin và sự thay đổi trong phương thức tiếp cận tri thức của người dùng tin hiện đại, công tác phát triển vốn tài liệu tại Viện đang đối mặt với nhiều thách thức: nguồn kinh phí còn hạn hẹp so với giá tài liệu ngoại văn tăng cao, cơ cấu tài liệu ngoại văn chưa thực sự cân đối giữa các ngôn ngữ, tỷ lệ tài liệu điện tử còn khiêm tốn và chưa có một văn bản chính sách bổ sung chính thức hoàn chỉnh. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thanh tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là khảo sát toàn diện thực trạng công tác bổ sung, phát triển vốn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, từ đó xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển nguồn lực thông tin.
Khóa luận triển khai các nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn tài liệu, các hình thức, nguyên tắc và nguồn bổ sung tài liệu trong cơ quan thông tin - thư viện.
- Khảo cứu bối cảnh hình thành, cơ cấu tổ chức, đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
- Phân tích thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu theo các tiêu chí: chính sách bổ sung, cơ cấu loại hình, thành phần môn loại, thành phần ngôn ngữ, nguồn kinh phí và các phương thức bổ sung.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác phát triển vốn tài liệu tại Viện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ phát triển vốn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, bao gồm: chính sách bổ sung, hình thức và nguyên tắc bổ sung, các nguồn bổ sung (mua, biếu tặng, trao đổi) và quy trình tổ chức thực hiện.
- Phạm vi không gian: Viện Thông tin Khoa học Xã hội (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), số 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào công tác phát triển vốn tài liệu giai đoạn từ sau thời kỳ Đổi mới đến thời điểm nghiên cứu (số liệu khảo sát các giai đoạn kiểm kê 1998, giai đoạn bổ sung 2003–2008 và mốc cập nhật dữ liệu đến tháng 3/2009).
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trước đề tài này, một số công trình đã tiếp cận nguồn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội nhưng ở các góc độ chuyên biệt khác:
- Đề tài "Tìm hiểu vốn thư tịch cổ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội" của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) chỉ giới thiệu riêng về kho tư liệu Hán Nôm và thư tịch cổ.
- Đề tài "Sơ bộ khảo sát nguồn tin tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội" của tác giả Chu Hải Yến (Đại học Đông Đô) khảo cứu tổng quan diện mạo nguồn tin sẵn có mà chưa đi sâu vào quy trình nghiệp vụ phát triển và bổ sung vốn tài liệu.
Khóa luận của Bùi Thị Thanh là công trình đầu tiên khảo cứu chuyên sâu và hệ thống hóa toàn bộ công tác bổ sung và phát triển vốn tài liệu tại đơn vị này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận nghiệp vụ thư viện học và thông tin học, kết hợp với các văn bản quản lý chuyên ngành:
- Khái niệm vốn tài liệu (VTL): Trích dẫn các định nghĩa kinh điển của chuyên gia thư viện Xô Viết E. Samurin, Từ điển thuật ngữ tiếng Việt, Cẩm nang nghề thư viện và quy định tại Điều 2 Mục 3 của Pháp lệnh Thư viện Việt Nam (năm 2001).
- Ba hình thức bổ sung tài liệu: Bổ sung khởi đầu (xây dựng vốn tài liệu hạt nhân), bổ sung hiện tại (bổ sung thường xuyên các xuất bản phẩm mới) và bổ sung hoàn bị - hồi cố (nghiên cứu lựa chọn lần hai để lấp lỗ hổng tư liệu và thanh lọc kho).
- Các nguyên tắc phát triển vốn tài liệu: Nguyên tắc tính Đảng, nguyên tắc tính khoa học, nguyên tắc phù hợp với chức năng - nhiệm vụ của thư viện và nguyên tắc phối hợp bổ sung.
- Cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm:
- Quyết định số 93/CP ngày 08/05/1975 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
- Quyết định số 54/KHXH-QĐ ngày 24/03/1976 của Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam về tổ chức hệ thống thông tin.
- Quyết định số 1889/KHXH-TC ngày 24/12/1994 quy định cơ cấu tổ chức Thư viện Khoa học Xã hội.
- Quyết định số 352/2005/QĐ-KHXH ngày 25/04/2005 của Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
- Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 15/01/2004 và Nghị định số 72/2002/NĐ-CP (Điều 14 Chương IV) về chính sách đầu tư đối với thư viện trọng điểm.
- Văn bản định hướng diện bổ sung được thông qua tại Hội nghị "Công tác bổ sung tư liệu KHXH & NV" ngày 21/12/1996 do Viện tổ chức.
- Khung phân loại: Bảng phân loại BBK rút gọn gồm 14 môn loại chính, được Viện biên soạn năm 1978 trên nền tảng Khung phân loại BBK (năm 1973).
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực chứng trong ngành thông tin - thư viện:
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu từ báo cáo tổng kiểm kê kho (1998), số liệu biểu ghi trong Cơ sở dữ liệu (CSDL) SÁCH (11.664 biểu ghi), hệ thống CSDL thư mục hoàn thành đến tháng 3/2009, sổ đăng ký bổ sung sách - báo - tạp chí giai đoạn 2003–2008.
- Phương pháp quan sát: Ghi nhận trực tiếp hoạt động nghiệp vụ tại Phòng Bổ sung - Trao đổi, Phòng Phân loại - Biên mục, Phòng Báo - Tạp chí và các phòng đọc phục vụ bạn đọc tại chỗ.
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi chuyên môn với các cán bộ lãnh đạo Viện, cán bộ phụ trách công tác bổ sung và bạn đọc nghiên cứu.
Nguồn dữ liệu
- Báo cáo kết quả dự án tổng kiểm kê kho sách báo tư liệu khoa học của Viện (hoàn thành tháng 8/1998).
- Dữ liệu trích xuất từ phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu CDS/ISIS (phiên bản 1.4) và CSDL SACHMOI.
- Số liệu điều tra bạn đọc tại chỗ giai đoạn 2004–2008 (thống kê 3.087 bạn đọc đăng ký thẻ là sinh viên, học viên cùng số liệu mượn đọc tài liệu theo ngôn ngữ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về Viện Thông tin Khoa học Xã hội và công tác phát triển vốn tài liệu
Chương 1 cung cấp bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức của Viện và hệ thống hóa lý thuyết về vốn tài liệu:
- Lịch sử phát triển: Tiền thân là Thư viện Khoa học Trung ương (thành lập ngày 06/02/1960). Năm 1968, thư viện được chia tách thành Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương và Thư viện Khoa học Xã hội. Đến ngày 08/05/1975, Thủ tướng ký Quyết định số 93/CP hợp nhất Thư viện KHXH với Ban TT KHXH thành Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Năm 1957 và 1968, Viện tiếp nhận toàn bộ vốn tài liệu quý hiếm từ Thư viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO). Viện gia nhập Hiệp hội Thư viện Quốc tế IFLA năm 2002 và là thành viên của các mạng lưới MISON, APINESS.
- Cơ cấu tổ chức và nhân sự: Tính đến năm 2009, Viện có 98 cán bộ viên chức (87 biên chế chính thức, 11 hợp đồng), trong đó có 3 Phó Giáo sư, 7 Tiến sĩ, 11 Thạc sĩ và 61 Cử nhân. Cơ cấu gồm 20 phòng ban chia thành 2 khối chính: Khối Thông tin khoa học (7 phòng thông tin chuyên ngành) và Khối Thư viện Khoa học Xã hội (7 phòng nghiệp vụ), cùng các phòng tin học, ấn phẩm, quản lý nghiệp vụ và hành chính.
- Phân nhóm người dùng tin và đặc điểm nhu cầu tin:
- Cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ quản lý cấp ngành: Chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng có yêu cầu thông tin định hướng chính trị cao, tính cập nhật nhanh, bao quát cả quá khứ, hiện tại và dự báo tương lai; phục vụ chủ yếu theo đơn đặt hàng.
- Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, nhà văn, nhà báo: Nhu cầu thông tin chuyên ngành sâu, tính mới, tài liệu gốc phục vụ các đề tài chuyên môn hẹp và hội thảo khoa học.
- Học viên cao học và sinh viên năm cuối: Chiếm tỷ lệ lớn nhất (khoảng 80% bạn đọc; giai đoạn 2004–2008 có 3.087 lượt đăng ký), có kỹ năng tin học tốt, nhu cầu tập trung vào luận văn, luận án, báo cáo khoa học.
+-------------------------------------------------------------------------+
| VIỆN TRƯỞNG & PHÓ VIỆN TRƯỞNG |
+------------------------------------+------------------------------------+
| KHỐI THÔNG TIN KHOA HỌC | KHỐI THƯ THƯ VIỆN KHXH |
| - Phòng TT Chính trị | - Phòng Bổ sung - Trao đổi |
| - Phòng TT Triết học - Xã hội học | - Phòng Phân loại - Biên mục |
| - Phòng TT các KH Ngữ văn | - Phòng Báo - Tạp chí |
| - Phòng TT các KH Lịch sử | - Phòng Bảo quản |
| - Phòng TT Xã hội và Con người | - Phòng Công tác bạn đọc |
| - Phòng TT Kinh tế - Luật | - Phòng Nghiệp vụ thư viện |
| - Phòng TT các KH Chiến lược | - Phòng CSDL - Thư mục |
+------------------------------------+------------------------------------+
| CÁC ĐƠN VỊ NGHIỆP VỤ & SỰ NGHIỆP: Tin học hóa, Phổ biến tin, In, Tòa |
| soạn Tạp chí TT KHXH, Quản lý HĐ TT-TV, Hành chính |
+-------------------------------------------------------------------------+
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu phân tích dữ liệu thực tế về nguồn lực thông tin:
1. Các giai đoạn phát triển và chính sách bổ sung
- Giai đoạn 1960–1966: Xây dựng vốn tài liệu hạt nhân với 250.000 bản sách tự nhiên - kỹ thuật, 11.000 bản sách KHXH, 5.000 tên tạp chí; tài liệu ngoại văn chiếm 97% (chủ yếu tiếng Nga và tiếng Trung).
- Giai đoạn 1967–1975: Quản lý kho sách EFEO; giai đoạn 1970–1975 tổ chức kho dự trữ hơn 10.000 cuốn sách và hàng nghìn số tạp chí để chi viện cho Thư viện KHXH tại TP. Hồ Chí Minh sau giải phóng (chuyển giao năm 1976).
- Giai đoạn 1975–1985: Tiếp nhận trọn vẹn từ EFEO 36.000 tác phẩm tiếng châu Âu, hơn 1.000 cuốn tiếng Việt, 2.000 ảnh, 33.000 văn bản Nôm, 10.000 bản chữ Nhật, 25.000 bản văn khác và gần 9.000 bản hương ước.
- Giai đoạn 1986 đến 2009: Trung bình mỗi năm bổ sung 2.000 tên sách và hơn 650 tên báo - tạp chí. Dự án kiểm kê 1994–1998 (ngân sách 6 tỷ đồng) thống kê Viện đang lưu giữ hơn 300.000 tên/số tạp chí và gần 500 tên báo.
- Định hướng chính sách bổ sung (Hội nghị 21/12/1996):
- Cơ cấu loại hình: Sách 34%, Báo - tạp chí 50%, Tài liệu hiện đại 16%.
- Cơ cấu nội dung: Nghiên cứu cơ bản KHXH & NV chiếm 50%; đề tài KH-CN cấp Nhà nước chiếm 40%; đề tài cấp Trung ương 0,5%; khoa học liên ngành và TT-TV chiếm 0,5%.
- Số bản nhập: Sách mua bằng ngoại tệ mạnh nhập 1 bản; sách tiếng Việt nhập 2 bản; từ điển nhập tối thiểu 1 bản; báo và tạp chí nhập 1 bản.
2. Hiện trạng vốn tài liệu
- Tài liệu truyền thống: Khoảng 200.000 tên sách (>400.000 bản); khoảng 500 tên báo (~450.000 số); hơn 2.000 tên tạp chí (>200.000 số); hơn 12.000 tấm ảnh và 600 tập ảnh đường phố Hà Nội; 13.211 bản thần tích thần sắc Hán Nôm và 5.637 bản hương ước cổ.
- Tài liệu hiện đại và cơ sở dữ liệu thư mục (tính đến tháng 3/2009):
| STT |
Tên cơ sở dữ liệu thư mục |
Số lượng biểu ghi |
| 1 |
Thần tích thần sắc |
13.211 |
| 2 |
Sách Viện KHXH Việt Nam (từ 1998) |
744.747 |
| 3 |
Mục lục tên báo - tạp chí |
127.xxx |
| 4 |
Bài tạp chí |
95.901 |
| 5 |
Sách Viện TT KHXH |
6.362 |
| 6 |
Sách tra cứu |
2.140 |
| 7 |
Tuyển tập đường phố Hà Nội |
638 |
Viện đồng thời triển khai số hóa 300 tài liệu EFEO (do Pháp hỗ trợ), xây dựng CSDL toàn văn Tạp chí TT KHXH, các báo cáo đề tài khoa học bằng phần mềm GreenStone và tham gia hệ thống Vietnam Journal Online.
- Thành phần môn loại sách (khảo sát 11.664 tên sách trong CSDL SÁCH):
| STT |
Môn loại tài liệu (Khung BBK rút gọn) |
Số tên sách |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Các khoa học ngữ văn. Tác phẩm văn học |
2.473 |
21,2 |
| 2 |
Lịch sử. Các khoa học lịch sử |
1.794 |
15,4 |
| 3 |
Nhà nước và pháp luật. Khoa học pháp lý / Kinh tế |
1.673 |
14,4 |
| 4 |
Chính trị. Các khoa học chính trị |
728 |
6,3 |
| 5 |
Quân sự. Các khoa học quân sự |
299 |
2,8 |
| 6 |
Chủ nghĩa Mác - Lênin |
298 |
2,6 |
| 7 |
Nghệ thuật. Nghệ thuật học |
278 |
2,5 |
| 8 |
Tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần |
249 |
2,2 |
| 9 |
Khoa học tự nhiên - Khoa học kỹ thuật |
192 |
1,8 |
| 10 |
Tài liệu có nội dung tổng hợp |
192 |
1,9 |
| 11 |
Các khoa học triết học. Tâm lý học |
153 |
1,5 |
| 12 |
Văn hóa. Khoa học văn hóa |
129 |
1,4 |
| -- |
Các môn loại khác thuộc nhóm KHXH chung |
Còn lại |
-- |
| Tổng |
CSDL SÁCH |
11.664 |
100,0 |
- Thành phần ngôn ngữ tài liệu:
- Đối với sách: Sách tiếng Nga chiếm tỷ trọng lớn nhất với 33,63% (42.182 bản), sách tiếng Việt chiếm 22,94%, tiếp theo là nhóm ngôn ngữ Latinh (Anh, Pháp, Đức...), tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật (3,96%).
- Đối với báo - tạp chí đang tiếp tục nhập (572 tên):
| STT |
Ngôn ngữ |
Số tên báo - tạp chí |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Tiếng Việt |
199 |
34,79 |
| 2 |
Tiếng Nga |
118 |
20,63 |
| 3 |
Tiếng Trung Quốc |
97 |
16,96 |
| 4 |
Tiếng Anh |
82 |
14,33 |
| 5 |
Tiếng Pháp |
76 |
13,29 |
| Tổng |
Báo - Tạp chí đang nhập |
572 |
100,00 |
- Khảo sát nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của bạn đọc tại chỗ (2004–2008): Sách tiếng Việt được sử dụng nhiều nhất (6.131 lượt), sách tiếng Nga đứng thứ hai (1.630 lượt), sách tiếng Latinh (1.285 lượt) và sách tiếng Trung Quốc (575 lượt).
3. Nguồn kinh phí bổ sung
Từ năm 1992, Viện được Nhà nước phân bổ hạn mức ngoại tệ bình quân khoảng 75.000 USD/năm để mua sách báo ngoại văn. Nguồn kinh phí bổ sung khác thu từ phí làm thẻ, tiền bồi thường tài liệu và phí dịch vụ sao chụp theo Điều 23 Pháp lệnh Thư viện chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Chương 3: Một vài kiến nghị về giải pháp phát triển vốn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp và các kiến nghị cụ thể:
- Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn tin: Xây dựng và ban hành văn bản chính thức về "Chính sách phát triển vốn tài liệu", quy định chi tiết tiêu chuẩn chọn lựa tài liệu cho từng chuyên ngành, tỷ lệ cân đối giữa sách, báo - tạp chí và tài liệu điện tử, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho cán bộ bổ sung.
- Tăng cường và đa dạng hóa nguồn kinh phí: Đề xuất Nhà nước duy trì và tăng hạn mức ngoại tệ; đẩy mạnh tìm kiếm tài trợ từ các tổ chức quốc tế (UNESCO, Đại sứ quán Pháp, Quỹ Ford...); mở rộng các dịch vụ thông tin có thu phí hợp pháp để tái đầu tư.
- Thành lập "Hội đồng duyệt tài liệu bổ sung": Cơ cấu hội đồng gồm đại diện lãnh đạo Viện, cán bộ phụ trách bổ sung và các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành thuộc các lĩnh vực KHXH để thẩm định danh mục đặt mua định kỳ, bảo đảm tính chuyên sâu và tránh thiên lệch chủ quan.
- Xây dựng hệ thống bổ sung phối hợp: Phối hợp chặt chẽ với 27 viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nhằm điều phối công tác mua sắm, chia sẻ nguồn tin, dùng chung CSDL và triệt để loại bỏ tình trạng mua trùng bản gây lãng phí ngân sách.
- Nâng cao trình độ cán bộ và đào tạo người dùng tin: Tổ chức bồi dưỡng định kỳ về ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), kỹ năng tin học và nghiệp vụ thư viện hiện đại cho cán bộ; mở các lớp tập huấn kỹ năng tra cứu CSDL điện tử cho bạn đọc.
- Phát triển vốn tài liệu ngoại văn và tài liệu hiện đại: Điều chỉnh cơ cấu bổ sung ngoại văn, ưu tiên tăng tỷ trọng sách và tạp chí tiếng Anh; đẩy mạnh mua quyền truy cập các CSDL trực tuyến, tạp chí điện tử quốc tế chuyên ngành KHXH.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin: Nâng cấp hệ thống phần mềm quản trị thư viện tích hợp; mở rộng dự án số hóa hồi cố các kho tư liệu quý hiếm (sách cổ, tư liệu EFEO, ảnh lịch sử); triển khai hệ thống tra cứu trực tuyến qua mạng LAN và Internet.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã tổng hợp và công bố bức tranh số liệu xác thực về toàn bộ tiềm lực thông tin của Viện Thông tin Khoa học Xã hội:
- Xác định quy mô kho tư liệu truyền thống đạt trên 200.000 tên sách (>400.000 bản), 500 tên báo (~450.000 số), hơn 2.000 tên tạp chí (>200.000 số), cùng 13.211 bản thần tích thần sắc và 5.637 bản hương ước cổ.
- Đánh giá hiện trạng phân bổ 11.664 tên sách trong CSDL SÁCH theo 14 môn loại BBK rút gọn, chỉ rõ nhóm ngành Ngữ văn (21,2%), Lịch sử (15,4%) và Pháp luật - Kinh tế (14,4%) chiếm tỷ trọng áp đảo.
- Phân tích cơ cấu ngôn ngữ trong 572 tên báo - tạp chí đang tiếp tục nhập về Viện: Tiếng Việt (34,79%), Tiếng Nga (20,63%), Tiếng Trung Quốc (16,96%), Tiếng Anh (14,33%) và Tiếng Pháp (13,29%).
- Chỉ rõ thực trạng sử dụng ngân sách Nhà nước (khoảng 75.000 USD ngoại tệ/năm từ 1992) và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu bổ sung sang tài liệu số và tài liệu tiếng Anh.
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Khóa luận củng cố và cụ thể hóa lý thuyết phát triển vốn tài liệu vào mô hình một cơ quan thông tin - thư viện nghiên cứu chuyên ngành KHXH & NV đầu ngành tại Việt Nam; làm rõ mối quan hệ giữa chính sách bổ sung với hiệu quả đáp ứng nhu cầu tin đa dạng của các nhóm đối tượng người dùng tin.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu khảo cứu chi tiết về quy mô, cơ cấu vốn tài liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội tính đến năm 2009. Các giải pháp đề xuất (thành lập Hội đồng duyệt tài liệu, xây dựng mạng lưới bổ sung phối hợp giữa 27 viện chuyên ngành, văn bản hóa chính sách bổ sung) có giá trị ứng dụng trực tiếp đối với công tác quản lý và nghiệp vụ tại Viện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp đại học, thời gian khảo sát thực tế có hạn; số liệu phân tích cơ cấu môn loại mới chỉ dừng lại ở tập dữ liệu 11.664 biểu ghi đã biên mục trong CSDL SÁCH (chưa bao quát toàn bộ 200.000 tên sách hiện có trong kho truyền thống); các phân tích về tài liệu điện tử mới ở giai đoạn đầu của quá trình tin học hóa.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát toàn diện hơn hiệu quả khai thác tài liệu số hóa; xây dựng mô hình liên hợp thư viện điện tử và chia sẻ tài nguyên thông tin dùng chung giữa Viện Thông tin Khoa học Xã hội với các cơ sở đào tạo đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành trên phạm vi cả nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên và giảng viên ngành Thông tin - Thư viện, Quản trị thông tin: Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp khảo sát, phân tích nguồn lực thông tin, cấu trúc phân loại tài liệu theo khung BBK và quy trình tổ chức công tác bổ sung trong thư viện nghiên cứu.
- Đối với cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ thư viện: Cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích trong việc xây dựng văn bản chính sách phát triển nguồn tin, thiết lập quy trình phối hợp bổ sung tài liệu ngoại văn và phương thức quản lý tài liệu chuyển giao lịch sử.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung phân loại nào để phân tích cơ cấu môn loại tài liệu tại Viện?
Khóa luận sử dụng Bảng phân loại BBK rút gọn gồm 14 môn loại chính, được Viện nghiên cứu biên soạn năm 1978 dựa trên nguyên bản Khung phân loại BBK năm 1973.
2. Nhóm ngành khoa học nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong CSDL SÁCH của Viện?
Theo kết quả thống kê 11.664 tên sách trong CSDL SÁCH, nhóm các khoa học ngữ văn và tác phẩm văn học chiếm tỷ lệ cao nhất (21,2% với 2.473 tên), đứng thứ hai là Lịch sử và các khoa học lịch sử (15,4% với 1.794 tên), đứng thứ ba là Nhà nước - Pháp luật và Kinh tế (14,4% với 1.673 tên).
3. Tỷ lệ ngôn ngữ sách ngoại văn lưu giữ tại Viện có đặc điểm gì nổi bật?
Sách tiếng Nga chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng vốn sách ngoại văn (33,63% với 42.182 bản), lớn hơn cả tỷ lệ sách tiếng Việt đơn lẻ trong kho (22,94%). Nguyên nhân do lịch sử tiếp nhận tư liệu trao đổi, tặng biếu từ Liên Xô trước đây và thói quen nghiên cứu của đội ngũ chuyên gia được đào tạo tại Nga.
4. Cơ cấu bổ sung vốn tài liệu theo định hướng của Hội nghị năm 1996 được phân bổ như thế nào?
Văn bản định hướng năm 1996 quy định cơ cấu loại hình gồm: Sách chiếm 34%, Báo - tạp chí chiếm 50%, Tài liệu hiện đại chiếm 16%. Về nội dung, tài liệu nghiên cứu cơ bản về KHXH & NV chiếm 50%, tài liệu phục vụ chương trình KH-CN cấp Nhà nước chiếm 40%, còn lại dành cho cấp Trung ương và liên ngành.
5. Nhóm đối tượng nào chiếm số lượng đông nhất trong tổng số người dùng tin tại Viện?
Học viên cao học và sinh viên năm cuối của các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành KHXH chiếm khoảng 80% tổng lượng người dùng tin tại Viện, với 3.087 bạn đọc đăng ký thẻ trong giai đoạn 2004–2008.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Thanh đã phản ánh chân thực, chi tiết và có hệ thống toàn bộ bức tranh công tác phát triển vốn tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội giai đoạn đến năm 2009. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận nghiệp vụ thông tin - thư viện với chuỗi số liệu khảo sát thực chứng, tác giả đã làm rõ các thành tựu về quy mô nguồn tin di sản cũng như những hạn chế nội tại về chính sách, kinh phí và cơ cấu ngôn ngữ. Các giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học cho việc đổi mới công tác bổ sung và hiện đại hóa nguồn lực thông tin KHXH của quốc gia.