phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: 3 Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển văn hóa doanh nghiệp Chƣơng 2. Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Tƣ vấn Xây dựng Công trình Hàng Hải Chƣơng 4.
Đề xuất giải pháp, kiến nghị 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Văn hóa doanh nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động toàn diện của doanh nghiệp mà còn là một giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. VHDN là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững.
Về lý luận có rất nhiều nghiên cứu về VHDN, có thể kể đến: TS. Văn hóa kinh doanh và Triết lý kinh doanh. NXB Chính trị Quốc gia Đây là một công trình nghiên cứu trình bày có hệ thống về các vấn đề văn hóa kinh doanh, VHDN, triết lý kinh doanh. từ phƣơng diện cơ sở lý luận và thực tiễn của thế giới và Việt Nam.
Nguyễn Mạnh Quân, 2007. Đạo đức kinh doanh và VHDN. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Đây là giáo trình của Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân. Công trình này trình bày rõ khái niệm, biểu hiện, các dạng VHDN, nhân tố tạo lập VHDN.TS Bùi Xuân Phong, 2006.
Đạo đức kinh doanh và VHDN. NXB Thông tin và truyền thông Công trình này trình bày khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của VHDN, các nhân tố tạo lập VHDN; nguyên tắc và quy trình xây dựng VHDN. Ngoài ra công trình cũng trình bày văn hóa trong các hoạt động kinh doanh nhƣ hoạt động marketing, văn hóa trong ứng xử, trong đàm phán và thƣơng lƣợng. Về luận văn thạc sỹ hiện có một số nghiên cứu đề cập đến VHDN trong ngành nhƣ: - Nguyễn Thị Việt Hoa, 2013.
VHDN tại VNPT Bắc Giang. Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Học viện Công nghệ Bƣu chính Viễn thông. Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các yếu tố cấu thành VHDN; phân tích, đánh 5 giá thực trạng, nguyên nhân ảnh hƣởng đến VHDN của VNPT Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng VHDN cho phù hợp với sự phát triển và hội nhập quốc tế.
Phát triển VHDN của Công ty Thông tin di động. Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu và hệ thống hóa những lý thuyết, lý luận căn bản về VHDN.
Qua đó đánh giá vai trò quan trọng của VHDN với quá trình phát triển của doanh nghiệp trong thời đại kinh doanh đa văn hóa. Từ đó đƣa ra đƣợc những đánh giá và phân tích về VHDN hiện tại của công ty Thông tin Di động (MobiFone) và đề xuất một số giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm phát triển VHDN của MobiFone trong quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. - Trần Thị Huyền, 2013. Duy trì và phát triển VHDN Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Học viện Công nghệ Bƣu chính Viễn thông. Luận văn đã nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện một số vấn đề cơ sở lý luận về VHDN. Trên cơ sở đó đánh giá đúng thực trạng VHDN Viettel và nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính hệ thống và khả thi nhằm duy trì và phát triển VHDN của Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Nhƣ vậy, các nghiên cứu trên đây đều đã chỉ ra đƣợc các yếu tố cấu thành VHDN và đƣa ra đƣợc những giải pháp để phát triển VHDN tại nơi các tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đều tập trung ở các doanh nghiệp lớn, đã có sự quan tâm đến việc xây dựng VHDN rõ ràng và về cơ bản là việc thực hiện VHDN tại đó khá rõ nét. Trong khi đó, hiện vẫn chƣa có đề tài nào về phát triển VHDN tại các doanh nghiệp tƣ vấn xây dựng quy mô vừa và nhỏ. Cụ thể, cho đến nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về VHDN của CMB để từ đó đƣa ra các biện pháp để xây dựng và phát triển VHDN tại CMB.
Đây là đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của Luận văn này. Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Văn hóa Văn hóa là khái niệm có nhiều cách hiểu tuỳ vào cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu. Là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp vì vậy khó có thể thống nhất đƣợc một khái niệm đầy đủ và chính xác về văn hoá.
Nên việc cùng tồn tại nhiều khái niệm văn hóa khác nhau càng làm vấn đề đƣợc hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn. Khái niệm văn hóa do Tổng thƣ ký UNESCO Federico Mayor nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 - 1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi ngƣời ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi ngƣời ta đã học tất cả”.
Một cách khái quát thì văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài ngƣời đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con ngƣời, với tự nhiên và với xã hội, đƣợc đúc kết lại thành hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con ngƣời, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con ngƣời, nhằm hoàn thiện con ngƣời, hoàn thiện xã hội. Văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con ngƣời và ý thức của con ngƣời.1: Dấu hiệu nhận diện văn hóa Ngoài ra còn rất nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu mà các khái niệm đã đƣợc đƣa ra ở trên là những khái niệm về văn hóa theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất. Văn hóa doanh nghiệp Xã hội rộng lớn có một nền văn hóa lớn.
Là một bộ phận của xã hội, mỗi doanh nghiệp cũng có một nền văn hóa doanh nghiệp (VHDN) của riêng mình. Cũng nhƣ văn hoá, VHDN có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh nó. Tất cả các khái niệm đó sẽ giúp chúng ta hiểu về VHDN một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.
Một định nghĩa phố biến và đƣợc chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein đƣa ra: “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh”. Tuy nhiên các khái niệm trên mới chỉ đề cập đến một mặt của VHDN đó là giá trị tinh thần mà bỏ qua một mặt cũng rất quan trọng của VHDN đó là giá trị vật chất. 8 Vì vậy trên cơ sở kế thừa và phát huy các quan điểm trên, mà có thể hiểu một cách đầy đủ hơn “VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa đƣợc doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh riêng biệt của doanh nghiệp đó”. Hay nói cách khác thì VHDN là toàn bộ các giá trị văn hóa đƣợc gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung.
Tuy những khái niệm về VHDN ở trên chƣa phải là tất cả song đó cũng là những nét chung và tƣơng đối đầy đủ về VHDN xét theo phạm vi nghiên cứu của luận văn này. Cấu trúc của một hệ thống văn hoá doanh nghiệp Khi thành lập doanh nghiệp, lãnh đạo thƣờng vay mƣợn ý tƣởng các mô hình có sẵn. Thực tế, mỗi doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức riêng phù hợp với lĩnh vực hoạt động và đặc điểm văn hóa. Vì thế muốn tạo ra cơ cấu doanh nghiệp thì những ngƣời chủ phải có kiến thức về các mô hình và hiểu đƣợc đặc điểm văn hóa của dân tộc cũng nhƣ văn hóa của doanh nghiệp.
Có ba yếu tố ảnh hƣởng quyết định đến cấu trúc văn hóa doanh nghiệp: - Mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức. - Hệ thống phân cấp và quyền lực xác định cấp trên, cấp dƣới. - Quan điểm chung của nhân viên về nhiệm vụ, mục đích, mục tiêu và vị trí của họ trong doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp đƣợc hình thành không chỉ do yếu tố công nghệ và thị trƣờng mà còn bởi yếu tố văn hóa của lãnh đạo và ngƣời lao động.
Một số công ty đa quốc gia có chi nhánh tại Châu Á, Âu, Mỹ và Trung Đông thì các chi nhánh này hoàn toàn khác nhau về môi trƣờng làm việc, các thủ tục kinh doanh, văn hóa dân tộc,… Nhƣng điểm khác nhau cơ bản nhất là về cấu trúc văn hóa của doanh nghiệp. Schien, cấu trúc của một hệ thống VHDN đƣợc chia làm ba lớp với cấp độ khác nhau: 1. Lớp thứ nhất - Những giá trị thực thể hữu hình Bao gồm tất cả những hiện tƣợng và sự vật mà một ngƣời có thể nhìn, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hóa xa lạ nhƣ: - Kiến trúc, cách bài trí, công nghệ, sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, trang phục. - Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp.
- Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp. - Lễ nghi và lễ hội hàng năm. - Các biểu tƣợng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp.