Luận văn thạc sĩ phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chuyên đề phương trình mũ và phương trình logarit ở lớp 12

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu cải thiện năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chuyên đề phương trình mũ và, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2020

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu

0.6. Giả thuyết nghiên cứu

0.7. Phạm vi nghiên cứu

0.8. Phương pháp nghiên cứu

0.9. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề về tư duy

1.1.1. Khái niệm về tư duy

1.1.2. Phân tích và tổng hợp

1.1.3. So sánh và tương tự

1.1.4. Khái quát hoá và đặc biệt hóa

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA GIẢI PHƯƠNG TRÌNH MŨ VÀ PHƯƠNG TRÌNH LOGARIT

2.1. Phương trình mũ và phương trình logarit cơ bản

2.1.1. Phương trình mũ cơ bản

2.1.2. Phương trình logarit cơ bản

2.1.3. Một số phương pháp giải phương trình mũ và phương trình lôgarit thường gặp

2.1.3.1. Phương pháp đưa về cùng cơ số
2.1.3.2. Phương pháp đặt ẩn phụ
2.1.3.3. Phương pháp mũ hóa và logarit hóa

2.1.4. Một vài phương pháp đặc biệt giải phương trình mũ và phương trình logarit

2.1.4.1. Phương pháp sử dụng tính đơn điệu của hàm số
2.1.4.2. Phương pháp đánh giá
2.1.4.3. Phương pháp đưa về phương trình tích, nghiệm phương trình bậc hai

2.1.5. Một số ứng dụng của logarit trong một số bài toán phổ thông

2.1.5.1. Tính số các chữ số của một số nguyên dương
2.1.5.2. Tính giới hạn một số dạng vô định
2.1.5.3. Tính đạo hàm một số hàm số phức tạp

2.1.6. Một số giáo án minh họa

2.1.6.1. Bài soạn tiết 35. Phương trình mũ và phương trình logarit
2.1.6.2. Bài soạn tiết 36. Phương trình mũ và phương trình logarit (tiếp theo)

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm

3.1.3. Nội dung thực nghiệm

3.1.4. Phương pháp thực nghiệm

3.1.5. Tổ chức thực nghiệm

3.1.6. Đối tượng thực nghiệm

3.1.7. Thời gian thực nghiệm

3.1.8. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Kết quả bài kiểm tra

3.2.2. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm. Phân tích kết quả thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình mũ và logarit

Phát triển tư duy sáng tạo là một trong những mục tiêu quan trọng trong giáo dục hiện đại. Việc áp dụng phương trình mũphương trình logarit trong giảng dạy không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn kích thích khả năng sáng tạo của các em. Những khái niệm này không chỉ đơn thuần là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn phong phú, từ đó tạo ra môi trường học tập thú vị và hiệu quả.

1.1. Khái niệm về tư duy sáng tạo trong giáo dục

Tư duy sáng tạo là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách mới mẻ và hiệu quả. Trong giáo dục, việc phát triển tư duy sáng tạo giúp học sinh không chỉ học thuộc lòng mà còn hiểu sâu sắc và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

1.2. Vai trò của phương trình mũ và logarit trong toán học

Phương trình mũ và logarit là những công cụ quan trọng trong toán học, giúp giải quyết nhiều bài toán thực tiễn. Chúng không chỉ đơn thuần là công thức mà còn là nền tảng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính, khoa học và công nghệ.

II. Những thách thức trong việc phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình mũ và logarit

Mặc dù việc phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình mũphương trình logarit mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Một trong những vấn đề chính là cách thức giảng dạy hiện tại vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu sự tương tác và thực hành. Điều này dẫn đến việc học sinh không thể phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình.

2.1. Thiếu sự kết nối giữa lý thuyết và thực tiễn

Nhiều giáo viên vẫn giảng dạy theo cách truyền thống, khiến học sinh khó nhận thấy sự liên hệ giữa kiến thức và ứng dụng thực tế. Việc này làm giảm hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh.

2.2. Rào cản trong việc áp dụng phương pháp dạy học mới

Nhiều giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về các phương pháp dạy học hiện đại, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp này vào giảng dạy. Điều này cần được khắc phục để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

III. Phương pháp phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình mũ và logarit

Để phát triển tư duy sáng tạo, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Việc sử dụng các bài toán thực tiễn liên quan đến phương trình mũphương trình logarit sẽ giúp học sinh không chỉ hiểu bài mà còn kích thích khả năng sáng tạo của các em.

3.1. Sử dụng bài toán thực tiễn trong giảng dạy

Giáo viên có thể đưa ra các bài toán thực tiễn liên quan đến lãi suất, tăng trưởng dân số để học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn phát triển tư duy logic.

3.2. Khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nhóm

Việc tổ chức các hoạt động nhóm giúp học sinh trao đổi ý tưởng, từ đó phát triển khả năng sáng tạo. Học sinh có thể cùng nhau giải quyết các bài toán phức tạp, từ đó rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và tư duy phản biện.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương trình mũ và logarit trong phát triển tư duy sáng tạo

Việc áp dụng phương trình mũphương trình logarit không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn có thể áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Các ứng dụng này không chỉ giúp học sinh thấy được giá trị của toán học mà còn kích thích sự sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề.

4.1. Ứng dụng trong tài chính và kinh tế

Phương trình mũ và logarit thường được sử dụng trong các bài toán tài chính như tính lãi suất, đầu tư. Việc hiểu rõ các khái niệm này giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về kinh tế và tài chính.

4.2. Ứng dụng trong khoa học và công nghệ

Trong các lĩnh vực khoa học như sinh học, vật lý, phương trình mũ và logarit cũng được áp dụng để mô tả các hiện tượng tự nhiên. Điều này giúp học sinh thấy được sự liên kết giữa toán học và các lĩnh vực khác.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho tư duy sáng tạo qua phương trình mũ và logarit

Phát triển tư duy sáng tạo qua phương trình mũphương trình logarit là một quá trình cần sự nỗ lực từ cả giáo viên và học sinh. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp học sinh phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Tương lai của giáo dục cần hướng đến việc phát triển tư duy sáng tạo, giúp học sinh trở thành những người có khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả.

5.1. Đề xuất các phương pháp dạy học mới

Cần nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học mới, giúp học sinh có cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế. Việc này sẽ giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo một cách hiệu quả hơn.

5.2. Tăng cường sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình

Sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình là rất quan trọng trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Cần có sự hỗ trợ từ gia đình để tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích học sinh khám phá và sáng tạo.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chuyên đề phương trình mũ và phương trình logarit ở lớp 12

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Phƣơng pháp phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh thông qua giải phƣơng trình mũ và phƣơng trình logarit. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Một số vấn đề về tƣ duy 1. Khái niệm về tư duy Trong cuộc sống con ngƣời luôn đứng trƣớc các vấn đề, sự việc cần phải lựa chọn và giải quyết. Để có những lựa chọn phù hợp, cách giải quyết đúng đắn và chính xác con ngƣời cần phải nhận biết đƣợc thực tiễn, phân tích đƣợc các yếu tố bản chất cùng với các mối quan hệ bên trong của các sự vật hiện tƣợng nhằm tìm ra những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận biết, phân tích, tổng hợp tìm ra quy luật và đƣa ra quyết định đó gọi là tƣ duy.

Theo từ điển triết học: “ Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận. Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật. Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ. Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm…Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó”.

Theo tâm lý học tƣ duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao, chính là bộ não ngƣời. tƣ duy phản ánh thế giới vật chất dƣới dạng các hình ảnh lý tƣởng: “Tƣ duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết”. [17, Tr 72] Theo cách hiểu đơn giản, tƣ duy là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này đƣợc não bộ tiếp nhận 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua bất kỳ giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác, thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác.

Ngoài ra tƣ duy còn đƣợc rất nhiều các nhà tâm lý học nghiên cứu, một trong những nghiên cứu đầy đủ nhất của tƣ duy đã đƣợc trình bày trong công trình của X. Theo ông thì “ Tƣ duy- đó là sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể với khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tƣ liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể”. Còn theo “ Tâm lý học đại cƣơng” của Nguyễn Quang Cẩn thì tƣ duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng bằng những hình thức nhƣ cảm giác, tri giác, biểu tƣợng, phán đoán, suy luận. Từ những quan điểm trên, ta có thể rút ra các đặc điểm nổi bật của tƣ duy: - Tƣ duy là một trong quá trình phản ánh một cách tích cực thế giới khách quan, là sản phẩm của bộ não con ngƣời.

- Bản chất của của tƣ duy là sự tồn tại độc lập, sự phân biệt của đối tƣợng đƣợc phản ánh qua khả năng nhận thức của con ngƣời nhằm phản ánh đối tƣợng một cách toàn diện nhất. - Khách thể của tƣ duy đƣợc thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó thƣờng phụ thuộc vào chủ thể là con ngƣời. - Kết quả của quá trình tƣ duy luôn là những ý tƣởng và thƣờng đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ và hành vi. - Một trong những đặc điểm nổi bật của tƣ duy là “ tính có vấn đề”.

Tƣ duy thƣờng nảy sinh và phát triển khi cần khắc phục khó khăn hoặc tìm ra hƣớng giải quyết mới bằng các phƣơng tiện trí óc nhờ đó có tác dụng kích thích và phát triển tƣ duy. Khi gặp các tình huống có vấn đề đó và nằm trong khả năng hiểu biết của chủ thể thì tƣ duy mới đƣợc hình thành và phát triển. Tóm lại, có thể hiểu tƣ duy là một hiện tƣợng tâm lý, đồng thời là sản phẩm của bộ não con ngƣời và là hoạt động nhận thức bậc cao của con ngƣời. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động tƣ duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ.

Mục tiêu của tƣ duy là tìm ra các triết lý, lý luận, phƣơng pháp luận và các giải pháp trong các tình huống cuộc sống của con ngƣời. Phân tích và tổng hợp Phân tích là quá trình phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận thông qua hoạt động của não bộ, các thành phần khác nhau từ đó chỉ ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm nổi bật của đối tƣợng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể của đối tƣợng đƣợc bộc lộ rõ. Chẳng hạn khi phân tích một bài toán đƣợc hiểu là tách các dữ kiện của bài toán làm cho nó xuất hiện các yếu tố đã cho và các yếu tố cần tìm, đồng thời làm xuất hiện mối quan hệ giữa các yếu tố để đƣa bài toán về các dạng quen thuộc. Tổng hợp quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn.

Trong tƣ duy , tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo. Khi nói ngƣời có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tƣơng tự nhƣ nói ngƣời có “đầu óc sáng tạo”. Phân tích và tổng hợp là hai thao tác trong một quá trình thống nhất biện chứng, sự phân tích đƣợc tiến hành theo hƣớng tổng hợp còn sự tổng hợp đƣợc tiến hành trên kết quả phân tích tổng hợp. Vì vậy đây là hai thao tác cơ bản nhất của quá trình tƣ duy.

Trong môn toán, thao tác phân tích và tổng hợp thƣờng đƣợc sử dụng để tìm hiểu bài toán, để nhận diện bài toán thuộc loại nào, sau đó phân tích tìm mối quan hệ giữa các yếu tố của bài toán (các yếu tố đã biết và các yếu tố cần tìm….) từ đó sẽ tổng hợp các yếu tố, điều kiện vừa phân tích để đƣa ra các bƣớc giải hoàn thiện. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hơn nữa, nhờ phân tích và tổng hợp ta có thể tổng hợp các bài toán tƣơng tự thành một vài dạng toán mẫu cùng với cách giải tƣơng ứng của chúng. So sánh và tương tự So sánh là thao tác tƣ duy để xác định sự giống nhau và khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật hiện tƣợng. Ngoài ra, nhờ so sánh ngƣời ta còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng.

Tƣơng tự là một dạng so sánh mà từ hai đối tƣợng giống nhau ở một số dấu hiệu rút ra kết luận hai đối tƣợng đó giống nhau ở một vài dấu hiệu khác. Trong toán học để xét sự tƣơng tự ngƣời ta thƣờng quan tâm đến các khía cạnh sau: - Hai tính chất đƣợc gọi là tƣơng tự nếu chúng biểu diễn các thuộc tính hoăc các yếu tố của hai hình tƣơng tự. - Hai hình đƣợc gọi là tƣơng tự nếu chúng có vai trò giống nhau, có nhiều tính chất giống nhau trong vấn đề nào đó hoặc giữa các phần tử tƣơng ứng của chúng có mối quan hệ giống nhau. - Hai phép chứng minh đƣợc gọi là tƣơng tự nếu cách thức, phƣơng pháp chứng minh là giống nhau.

- Hai lời giải tƣơng tự nhau đối với các bài toán tƣơng tự nhau về dữ kiện và yêu cầu. Tƣơng tự là nguồn gốc của nhiều sáng tạo và phát minh. Song cũng giống nhƣ khái quát hóa, tƣơng tự thuộc về suy luận có lý, do đó cần phải rất cẩn thận khi rút ra một kết luận nào đó vì từ tƣơng tự có thể dẫn đến những kết luận không chính xác. Khái quát hoá và đặc biệt hóa Khái quát hóa là quá trình hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tƣợng thông qua tƣ duy của não bộ.

Kết quả của khái quát hoá là cho ra 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một đặc tính chung của các đối tƣợng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dƣới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc giúp con ngƣời giải quyết các vấn đề một cách thuận lợi hơn, nhanh hơn và chính xác hơn. Hay hiểu một cách đơn giản đặc biệt hóa là xét trƣờng hợp cụ thể, đặc biệt trong cái chung, cái tổng thể. Nhờ đó giúp chúng ta giải quyết vấn đề một cách cụ thể hơn, chi tiết và hoàn thiện hơn. Nhƣ vậy có thể thấy rằng khái quát là quá trình tƣ duy đi từ nhiều cái riêng đến cái chung, cái tổng quát hoặc từ cái tổng quát đến cái tổng quát hơn.

Đặc biệt hóa là thao tác tƣ duy ngƣợc lại khái quát hóa. Trừu tượng hoá và cụ thể hóa Trừu tƣợng hoá là quá trình cũng nhƣ khả năng dùng trí óc để gạt bỏ những thuộc tính, những mặt, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố bản chất, đặc trƣng của đối tƣợng nhận thức. Trừu tƣợng hóa là chỉ tập trung nói đến cái chung nhất mà không gán cho một đối tƣợng cụ thể nào. Cụ thể hóa là quá trình dùng trí óc tìm một ví dụ minh họa cho cái chung nào đó, tức là tìm một cái cụ thể mà nó thỏa mãn những tính chất, điều kiện của cái chung đó.

Tóm lại, các thao tác tƣ duy cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động tƣ duy. Trong thực tế các thao tác tƣ duy đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ