Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Một số biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh giỏi trung học cơ sở thông qua dạy chuyên đề tứ giác Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về tƣ duy 1. Khái niệm tư duy Có rất nhiều cách giải thích về khái niệm tư duy. Theo từ điển tiếng Việt, "Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí"[31], tr.
Theo từ điển triết học, tư duy chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử một cách tích cực hơn với nó[29], tr. Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Quang Lũy và Đinh Văn Văng, "Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính qy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [30], tr. Trong cuốn "Rèn luyện tư duy trong dạy học Toán", Trần Thúc Bình đã định nghĩa "Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết” [2], tr.30] Theo một nghiên cứu về tư duy của X.L Rubinstein thì "Tư duy là sự khôi phục trong ý nghĩa của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” [7], tr.26] Từ các khái niệm tư duy trên, dù có nhiều cách nhìn nhận về tư duy nhưng các tác giả đều cho rằng: Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự khái quát những thuộc tính chung, có bản chất là tìm ra những mỗi liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các giai đoạn của quá trình tư duy Quá trình tư duy xảy ra theo các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề; Giai đoạn 2: Huy động các tri thức và kinh nghiệm; Giai đoạn 3: Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết; Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thuyết; Giai đoạn 5: Giải quyết nhiệm vụ. Các giai đoạn của quá trình tư duy Nhận thức vấn đề Xuất hiện các liên tưởng Sàng lọc liên tưởng và hình thành giải thuyết Kiểm tra giả thuyết Chính xác hóa Khẳng định Khẳng định Giải quyết vấn đề Hành động tư duy mới 1. Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tính có vấn đề Nếu gặp những tình huống mà vấn đề hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của con người không đủ giải quyết, lúc đó con người rơi vào tính 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huống có vấn đề. Khi đó, con người phải tư duy, tức là cố vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi đến cái mới.
b) Tính gián tiếp. Tư duy con người có khả năng phản ánh thế giới một cách gián tiếp. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất qua cách con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy. Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật, .) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, .) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Ngoài ra, tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở chỗ trong quá trình tư duy, con người sử dụng những công cụ, phương tiện để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác. Khi đó, con người mở rộng khả năng nhận thức, không chỉ phán ánh được những gì trong hiện tại mà còn phản ánh cả quá khứ và tương lại. c) Tính trừu tượng và khái quát Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không chỉ phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ. Tư duy có khả năng trừu tượng xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng.
Trên cơ sở đó mà tư duy khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù. Trừu tượng và dùng trí óc để gạt bỏ những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết cho tư duy. Khái quát là dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan hệ nhất định. d) Tính độc lập tương đối Con người luôn giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày.
Do đó tư duy của mỗi người vừa tự biến đổi không ngừng trong quá trình giao tiếp của bản thân, vừa chịu những tác động từ tư duy của những người xung quanh. Tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định. Mặc dù được tạo thành từ kết quả của các hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập tương đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy chịu sự ảnh hưởng của toàn bộ tri thức nhân loại đã tích lũy trước đó, tác động của các lí thuyết và quan điểm đang có lúc bấy giờ.
Tư duy phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách suy nghĩ cũng như cách hiểu riêng của mỗi người. Đây là logic phát triển riêng của tư duy. e) Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ Tư duy có nhiều đặc điểm là do nó gắn chặt với ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Ngôn ngữ giúp quá trình tư duy của con người diễn ra và giúp những chủ thể khác tiếp nhận các sản phẩm của tư duy như khái niệm, phán đoán, … Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả tư duy nên có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và bản thân chủ thể tư duy. Ngôn ngữ sẽ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa nếu không có tư duy. Ngôn ngữ chính là phương tiện của tư duy. f) Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác.
Cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người. Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người. Tư duy là mức độ nhận thức cao hơn hẳn về chất so với nhận thức cảm tính, nhưng tư duy vẫn luôn gắn liền với nhận thức cảm tính. Tư duy dù có trừu tượng, khái quát đến mấy cũng phải dựa vào các tài liệu trực quan mà cảm giác và tri giác mang lại.
Lê-nin thì từng nói: "không có cảm giác thì không có quá trình nhận thức nào cả".Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính. Cảm giác của con người tinh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vi, nhạy bén hơn; tri giác con người có tính lựa chọn, tính ý nghĩa hơn nhờ có tư duy. Chính vì thế mà Ph. Angghen đã viết rằng nhập vào mắt của chúng ta chẳng những có những cảm giác khác mà còn có cả ho động tư duy của ta nữa.
Các loại hình tư duy Có rất nhiều tên gọi cho tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học,.Về bản chất thì tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử đã có sẵn. Phân chia ra các loại hình tư duy có tác dụng phân biệt rõ mục đích của từng loại và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh. Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây. a) Phân loại theo cách thể hiện - Tư duy bằng hình tượng - Tư duy bằng ngôn ngữ b) Phân loại theo cách vận hành - Tư duy kinh nghiệm - Tư duy sáng tạo - Tư duy trí tuệ - Tư duy phân tích - Tư duy tổng hợp c) Phân loại theo tính chất - Tư duy rộng hay hẹp - Tư duy sâu hay nông - Tư duy lôgic - Tư duy phi lôgic - Tư duy đơn giản hay phức tạp - Tư duy lý luận d) Phân loại theo nội dung 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tư duy khoa học - Tư duy nghệ thuật - Tư duy tín ngưỡng 1.
Tƣ duy sáng tạo 1. Khái niệm tư duy sáng tạo Có rất nhiều cách giải thích về khái niệm tư duy sáng tạo. cho rằng: Hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật cụ thể hay là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người[6], tr. E: Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả.
Ông cho rằng sáng tạo “là quá trình trở nên nhạy cảm hay nhận biết nhiều vấn đề, sự thiếu hụt hay lỗ hổng trong kiến thức, sự thiếu hụt các yếu tố hay sự thiếu hòa hợp, v. cùng nhau đưa đến các mối quan hệ mới với những thông tin hiện tại có giá trị từ đó dẫn đến tìm kiếm những phương án giải quyết, những phỏng đoán, công thức hóa về vấn đề”[10], tr. Nhà tâm lý học Mỹ Willson M. cho rằng: “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba các yếu tố nêu ra”[28], tr.