CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài. Dựa trên California Teacher Preparation for Instruction in Critical Thinking: Research Findings and Policy Recommendations (1997) [11] và giản lược, có thể nói lịch sử của phong trào phát triển tư duy phản biện bắt nguồn từ các nhà triết học Hy Lạp cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ năm và thứ tư trước Công nguyên. Nhà triết học Hy Lạp Socrates đã từng tuyên bố rằng Cuộc đời không tự vấn là cuộc đời không đáng sống.
Giống như Socrates, ta không thể không nhắc đến Aristotle với đóng góp quan trọng trong việc định hình về tư duy phản biện. Trong quyển Bảy và Tám của Chuyên luận kinh điển của ông về chính trị, nhà triết học cổ đại đã vạch ra quan điểm của mình về các nguyên tắc đằng sau giáo dục. Theo Aristotle, ba điều khiến con người trở nên có đạo đức là : bản chất, thói quen và nguyên tắc lý tính. Thomas Aquinas là một trong những nhà giáo dục có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 13.
Đóng góp quan trọng nhất cho phong trào tư duy phản biện của ông chính là tác phẩm Summa Theologica. Trong Summa Theologica, ông bảo vệ tầm quan trọng của lý luận triết học và việc sử dụng nó trong sự tiến bộ tri thức và bảo vệ đức tin Kitô giáo. Ba trăm năm sau, triết gia người Anh Francis Bacon (1605) tiếp tục đóng góp về tầm quan trọng của việc trau dồi tư duy phản biện thông qua tác phẩm The Plan for the Advancement of Learning. Trong bài luận của mình, Bacon đã nêu việc các giác quan tự nhiên của con người không hề đáng tin cậy và sự hiểu biết thiếu giáo dục chính là sai lầm.
Năm 1637, nhà triết học người Pháp Rene Descartes xuất bản tác phẩm Phương pháp luận, trong đó ông đã giới thiệu cái mà ông gọi là phương pháp lý luận. Thay vì tuân theo các nguyên tắc đã được dạy khi còn nhỏ, Descartes tin tưởng rằng mọi người cần sử dụng lý luận của chính mình để trưởng thành. 7 Cũng trong khoảng thời gian đó, Thomas Moore đã phát triển một mô hình trật tự xã hội mới, Utopia, trong đó mọi lĩnh vực của thế giới hiện tại đều phải chịu sự phê phán. Luận án ngầm của ông cho rằng các hệ thống xã hội đang cần sự phân tích và phê phán triệt để.
Trong thời kỳ Phục hưng ở Ý, cuốn The Prince của Machiavelli đã đánh giá một cách nghiêm túc nền chính trị đương thời, và đặt ra nền tảng cho tư tưởng chính trị phê phán hiện đại. Chính trong tinh thần tự do trí tuệ và tư duy phản biện này mà những người như Robert Boyle (thế kỷ 17) và Isaac Newton (thế kỷ 17 và 18) đã tạo nên những công trình vĩ đại của họ. Trong cuốn Skeptical Chymist, Boyle đã chỉ trích gay gắt lý thuyết hóa học đi trước ông. Newton, mặt khác, đã phát triển một hệ tư tưởng sâu rộng chỉ trích toàn diện việc nhìn nhận thế giới theo các quan điểm truyền thống từ trước đến nay.
Đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của phong trào nghiên cứu và đề cao tư duy phản biện là các nhà tư tưởng Khai sáng người Pháp : Bayle, Montesquieu, Voltaire và Diderot. Tất cả đều bắt đầu với tiền đề rằng tâm trí con người, khi được rèn luyện bởi lý trí, có khả năng tìm ra bản chất của xã hội và chính trị tốt hơn. Về kinh tế có quyển Sự giàu có của các quốc gia của Adam Smith ; trong cùng năm đó, về khái niệm truyền thống về lòng trung thành với thể chế quân chủ - nhà vua, có tác phẩm Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ ; về lý tính, có tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy của Kant. Vào thế kỷ 19, tư duy phản biện đã được mở rộng hơn nữa vào lĩnh vực đời sống xã hội loài người bởi Auguste Comte và Herbert Spencer.
Về các vấn đề của chủ nghĩa tư bản, có sự tìm kiếm xã hội và phê phán kinh tế của Karl Marx. Về lịch sử văn hóa nhân loại và cơ sở của đời sống sinh học, có quyển Nguồn gốc loài người của Darwin. Về tâm trí vô thức, nó được phản ánh trong các tác phẩm của Sigmund Freud. Về các nền văn hóa, tư duy phản viện đã dẫn đến việc thành lập lĩnh vực nghiên cứu Nhân chủng học.
Về ngôn ngữ, nó đã dẫn đến lĩnh vực Ngôn ngữ học và nhiều cuộc thăm dò sâu sắc về các chức 8 năng của ngôn ngữ học trong biểu tượng và ngôn ngữ trong đời sống con người. Vào thế kỷ 20, sự hiểu biết về sức mạnh và bản chất của tư duy phản biện xuất hiện ngày càng rõ ràng hơn. Năm 1906, William Graham Sumner xuất bản cuốn sách, Folkways, trong đó ông ghi lại khuynh hướng suy nghĩ tập trung vào xã hội của tâm trí con người. Các công trình nghiên cứu của Ludwig Wittgenstein đã chỉ ra sự nâng cao nhận thức không chỉ về tầm quan trọng của các khái niệm trong suy nghĩ của con người, mà còn về sự cần thiết phải phân tích các khái niệm và đánh giá về sức mạnh và hạn chế của chúng.
Từ công trình của Piaget, có thể thấy nhận thức về tính vị kỷ và xu hướng lấy xã hội làm trung tâm của tư duy con người và nhu cầu đặc biệt để phát triển tư duy phản biện để có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ và được nâng lên cấp độ "nhận thức có ý thức". Trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc tế, có rất nhiều tài liệu chỉ ra sự thích đáng của việc giáo dục nói chung, và dạy học Toán nói riêng nhằm phát triển tư duy phản biện, có thể kể đến như : Applebaum, M. Activating Pre-Service Mathematics Teachers' Critical Thinking. European Journal of Science and Mathematics Education ; Sofroniou, A.
Investigating the effectiveness of group work in mathematics. Education Sciences ; Rillero, P. Deep Conceptual Learning in Science and Mathematics: Perspectives of Teachers and Administrators. Electronic Journal of Science Education ; Viro, E.
The StarT Project Competition from the Perspective of Mathematics and Academic Literacy. Education Sciences ; … Trong các nghiên cứu ở phạm vi Việt Nam, một số luận văn thạc sĩ, công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy phản biện gần đây như : Nguyễn, T. Dạy học xác suất thống kê theo hướng phát triển tư duy phản biện cho học sinh trung học phổ thông. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam ; Nguyễn, T.
Phát triển tư duy phản biện cho học sinh 9 thông qua đối thoại trong dạy học phương pháp tọa độ trong mặt phẳng ở trung học phổ thông. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam ; Nguyễn, T. Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong mô hình trường học thông minh. Trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế giáo dục cho mọi người (Proceedings of international conference education for all).
Các nghiên cứu này phần lớn nhìn nhận, nghiên cứu về tư duy phản biện dưới góc nhìn dạy học, phát triển cho đối tượng học sinh chính là trung học phổ thông, và đặc biệt phổ biến ở bộ môn toán. Từ sự ra đời cũng như phát triển của các nghiên cứu trong và ngoài nước về tư duy phản biện nói chung, và tư duy phản biện ở Việt Nam nói riêng, có thể thấy rằng tư duy phản biện đang dần khẳng định vai trò của mình như một kỹ năng không thể thiếu, cần được chú ý bồi dưỡng, giảng dạy ở Việt Nam. Tuy nhiên, với số lượng nghiên cứu không nhiều lắm, có thể thấy rằng đây vẫn là một kỹ năng mới, và giáo viên còn gặp khá nhiều vấn đề trong câu chuyện giảng dạy. Tư duy phản biện 1.
Tư duy Khái niệm tư duy được sinh ra từ thời cổ đại, bởi các nhà triết học đầu tiên như Plato và Aristotle khi họ đào sâu và khám phá về bản chất của tư tưởng. Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu về tư duy mới bắt đầu phát triển, dần trở nên có hệ thống và hình thành nên một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt. John Dewey, một triết gia và nhà cải cách giáo dục, có một vai trò quan trọng trong việc định hình tư duy hiện đại về tư duy. Trong cuốn sách năm 1910 của mình, "Chúng ta nghĩ như thế nào", Dewey lập luận rằng tư duy là một quá trình mang tính phản ánh, yêu cầu việc tìm hiểu tích cực, chủ động và giải quyết vấn đề.
Vào giữa thế kỷ 20, các học giả khác, như Edward de Bono và Arthur Koestler, đã mở rộng công trình của Dewey và phát triển các lý thuyết mới về tư duy. De Bono đã giới thiệu khái niệm "lateral thinking" (tư duy đường vòng, 10 tư duy ngoại biên), liên quan đến việc tiếp cận các vấn đề từ các góc độ độc đáo, trong khi Koestler đề xuất khái niệm "bisociation" (liên tưởng lưỡng diện), liên quan đến việc kết hợp các ý tưởng dường như không liên quan để tạo ra những hiểu biết mới. Tư duy là một quá trình phức tạp có thể được chia thành nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, phổ biến nhất, tư duy thường được chia thành 4 loại: tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, tư duy chiến lược và tư duy phân tích.
Tư duy phản biện liên quan đến việc đánh giá thông tin và lập luận, đặt câu hỏi về các giả định và xác định các ý kiến phản biện. Tư duy sáng tạo liên quan đến việc tạo ra những ý tưởng mới, tạo kết nối giữa các khái niệm dường như không liên quan và suy nghĩ bên ngoài. Tư duy chiến lược liên quan đến việc phát triển các kế hoạch và chiến lược để đạt được mục tiêu, trong khi tư duy phân tích liên quan đến việc phân tích thông tin phức tạp và khái quát hóa các ý tưởng. Ở một số cách phân loại và phân độ về tư duy khác, chẳng hạn như Thang phân loại của Bloom, cũng chia tư duy thành các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như ghi nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo.
Mỗi cấp độ này liên quan đến các loại tư duy khác nhau, với các cấp độ cao hơn đòi hỏi các quá trình nhận thức phức tạp hơn. Nhiều nhà giáo dục và tổ chức định nghĩa tư duy là một quá trình tìm hiểu và giải quyết vấn đề liên quan đến việc đánh giá thông tin, tạo ra ý tưởng và đưa ra quyết định. Trong thời hiện đại, tư duy được xem là một thành phần quan trọng của giáo dục, đặc biệt khi nhiều nhà giáo dục và tổ chức giáo dục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng tư duy của học sinh.