phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tác giả dự kiến trình bày luận văn trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển tƣ duy phản biện cho học sinh thông qua dạy học phƣơng trình chứa căn thức ở lớp 10. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm Tư duy Có rất nhiều cách khác nhau để phát biểu về tƣ duy. Có thể thấy điểm chung của các phát biểu đó là: Tƣ duy là quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con ngƣời, phản ánh hiện thực khách quan vào trí óc con ngƣời dƣới dạng các khái niệm, phán đoán, lý luận…Tƣ duy là sản phẩm của hoạt động xã hội. Phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề… là những quá trình nhận thức tiêu biểu của tƣ duy. Đặc điểm của tư duy -Tính có vấn đề của tƣ duy.
Vấn đề trong cuộc sống là những tình huống, những hoàn cảnh chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà không thể giải quyết đƣợc bằng những hiểu biết cũ, những phƣơng pháp hành động cũ. Khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề thì tƣ duy của con ngƣời mới xuất hiện. Muốn giải quyết vấn đề đó buộc con ngƣời phải nghiên cứu, tìm cách thức giải quyết mới, phải tƣ duy. Ví dụ: Khi gặp một bài toán, sau khi đọc đề bài học sinh phải nhận thức đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ của bài toán, tìm lại các quy tắc, công thức, định lí có liên quan về mối quan hệ giữa giả thiết và kết luận của bài toán, tìm ra cách giải tối ƣu.
Đó là lúc tƣ duy xuất hiện. Không phải cứ gặp hoàn cảnh nào tƣ duy cũng xuất hiện. Khi con ngƣời nhận thức đƣợc những tình huống có vấn đề, những mâu thuẫn chứa đựng trong bên trong tình huống, phải có nhu cầu giải quyết tình huống và có những kiến thức liên quan tình huống thì tình huống đó mới có vấn đề. - Tƣ duy có tính gián tiếp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Con ngƣời nhận thức các sự vật hiện tƣợng quanh mình một cách trực tiếp.
Ngoài ra còn có khả năng nhận thức một cách gián tiếp. Con ngƣời tƣ duy bằng cách sử dụng ngôn ngữ. Con ngƣời sử dụng các kết quả nhận thức và kinh nghiệm của bản thân nhờ ngôn ngữ vào quá trình tƣ duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…), qua đó hiểu đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng. Tính gián tiếp của tƣ duy đƣợc thể hiện ở việc con ngƣời sáng tạo ra và sử dụng những công cụ, phƣơng tiện để nhận thức những sự vật, hiện tƣợng mà không thể nhận thức trực tiếp bằng tri giác.
Con ngƣời đã luôn tìm cách mở rộng khả năng nhận thức của mình, con ngƣời không chỉ phản ánh những gì đang diễn ra trong hiện tại mà còn phản ánh đƣợc cả quá khứ và có thể dự đoán cả tƣơng lai. - Tƣ duy có tính trừu tƣợng và khái quát. Tƣ duy có khả năng loại bỏ những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể khỏi sự vật, hiện tƣợng và chỉ giữ lại những thuộc tính chung cho nhiều sự vật hiện tƣợng. Những sự vật hiện tƣợng riêng lẻ, nhƣng có thuộc tính chung đƣợc khái quát thành một nhóm, một loại, một phạm trù.
Vì vậy ta nói rằng tƣ duy mang tính trừu tƣợng và khái quát. Con ngƣời dùng trí óc để loại bỏ những tích chất, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tƣ duy. Đó là trừu tƣợng. Dựa trên những thuộc tính, những quan hệ, những mối liên hệ mà con ngƣời dùng trí óc để tổng hợp các đối tƣợng, các sự vật khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù.
Đó là khái quát. Trừu tƣợng và khái quát có mối liên hệ rất mật thiết. Phải có trừu tƣợng thì mới có thể tiến hành khái quát, nhƣng quá trình nhận thức sẽ bị hạn chế nếu trừu tƣợng mà không đƣợc khái quát. - Tƣ duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tƣ duy gắn chặt với ngôn ngữ nên nó mang tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tƣợng và khái quát. Có ngôn ngữ thì quá trình tƣ duy của con ngƣời mới diễn ra đƣợc, đồng thời các sản phẩm của tƣ duy (khái niệm, phán đoán…) mới truyền tải đến ngƣời khác đƣợc. Ngôn ngữ thể hiện lại kết quả của tƣ duy, nó là phƣơng tiện diễn đạt kết quả tƣ duy, do đó có thể tóm tắt, ghi lại kết quả tƣ duy cho ngƣời khác và cho bản thân chủ thể tƣ duy. Không có tƣ duy thì những âm thanh con ngƣời phát ra đều vô nghĩa.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện của tƣ duy, không phải là tƣ duy. Tƣ duy phát triển qua một quá trình lâu dài hình thành nên ngôn ngữ. - Tƣ duy và nhận thức cảm tính có mối quan hệ mật thiết. Quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tƣợng đang tác động trực tiếp vào giác quan của con ngƣời gọi là cảm giác.
Quá trình tâm lí phản ánh các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tƣợng khi chúng ta đang trực tiếp nhìn thấy, ngửi thấy… gọi là tri giác. Tƣ duy cần phải dựa vào nhận thức cảm tính, dựa trên những kinh nghiệm đã đƣợc hình thành, trên cơ sở trực quan sinh động. Tƣ duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, từ việc nảy sinh tình huống có vấn đề. Nhận thức cảm tính thể hiện sự liên hệ trực tiếp giữa tƣ duy với hiện thực, đƣợc đúc rút thành khái niệm, quy luật.
- Tƣ duy là một quá trình: tƣ duy là hoạt động trí tuệ, là quá trình gồm các bƣớc: Xác định vấn đề và biến vấn đề thành nhiệm vụ tƣ duy; Huy động tri thức, hình thành giả thuyết; Kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết; Đánh giá kết quả. Vì vậy, từ những đặc điểm của tƣ duy, ta cần chú ý: - Phải coi trọng việc phát triển tƣ duy cho học sinh, nếu không có khả năng tƣ duy thì học sinh khó có thể học tập và rèn luyện đƣợc. - Cần tạo ra những tình huống có vấn đề, đƣa học sinh vào tình huống đó, để học sinh độc lập, sáng tạo giải quyết tình huống có vấn đề. Làm nhƣ vậy sẽ kích thích đƣợc tƣ duy của học sinh.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kết hợp truyền thụ tri thức với việc phát triển tƣ duy. Các kiến thức, tri thức đều mang tính khái quát, trừu tƣợng, học sinh không tiếp thu và không vận dụng đƣợc những tri thức nếu không tƣ duy. - Việc phát triển tƣ duy phải gắn với việc thƣờng xuyên trau dồi ngôn ngữ. Vì phƣơng tiện của tƣ duy chính là ngôn ngữ.
- Phải tăng cƣờng trong suy nghĩ của chúng ta khả năng trừu tƣợng và khái quát. - Thiếu những tài liệu cảm tính thì tƣ duy không thể diễn ra đƣợc nên việc phát triển tƣ duy phải gắn liền với việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát và trí nhớ. - Phải thƣờng xuyên tạo cơ hội, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nhận thức và thực tiễn. Nhờ đó tƣ duy sẽ phát triển và không ngừng đƣợc nâng cao.
Bên cạnh đó cần tránh định kiến trong tƣ duy. Tránh bị ám ảnh, bị áp lực, bị ảo tƣởng về một vấn đề nào đó. Các loại hình tư duy Có ba loại hình tƣ duy là tƣ duy trực quan, tƣ duy trừu tƣợng và tƣ duy trực giác. Các thao tác tư duy Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia sự vật, đối tƣợng thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó chỉ ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm của sự vật, đối tƣợng hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể đƣợc rõ ràng hơn.
Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để sắp xếp hay kết hợp, hợp nhất những thành phần, những bộ phận, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời thông qua sự phân tích thành một chỉnh thể, qua đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát hơn, toàn diện hơn. Trong tƣ duy, tổng hợp là thao tác rất quan trọng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com So sánh - tương tự: là quá trình con ngƣời có thể tìm ra các dấu hiệu giống nhau và khác nhau của các sự vật, hiện tƣợng. Từ đó chỉ ra những dấu hiệu bản chất, cơ bản và dấu hiệu thứ yếu của chúng.
Trừu tượng hoá: là quá trình dùng trí óc để loại bỏ các thuộc tính, các mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và giữ lại các yếu tố đặc trƣng, cơ bản, bản chất của đối tƣợng nhận thức. Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để tổng hợp, bao quát nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Khái quát hoá chỉ ra đặc tính chung của các đối tƣợng cùng nhóm, tạo nên nhận thức mới, quan niệm mới dƣới dạng khái niệm, định luật, quy tắc. Các thao tác tƣ duy đan chéo vào nhau không theo trình tự cụ thể.
Tuy nhiên, không nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác tƣ duy trên mà tùy theo từng nhiệm vụ tƣ duy, điều kiện tƣ duy cụ thể. Thang tư duy Bloom Trong Giáo dục, để xây dựng và sắp xếp mục tiêu giáo dục, xây dựng chƣơng trình giáo dục, chúng ta sử dụng thang đo nhận thức nhƣ một công cụ nền tảng, Benjamin S. Bloom (1956) đã xây dựng thang đo nhận thức đầu tiên bao gồm 6 cấp độ: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thang đo nhận thức Bloom (1956) Qua quá trình thực tế dạy và học, con ngƣời đã nhận thấy thang trên chƣa thật sự hoàn chỉnh.
Vào giữa thập niên 1990, một học trò của Benjamin Bloom là Lorin Anderson, đã cùng một số cộng sự đề xuất điều chỉnh Thang đo nhận thức Bloom nhƣ sau: Hình 1. Thang đo nhận thức Bloom cải tiến ( Lorin Anderson) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tƣ duy phản biện 1. Một số quan niệm về tư duy phản biện Do cách dịch khác nhau, thuật ngữ “critical thinking” có thể dịch là tƣ duy phê phán hoặc tƣ duy phản biện.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng “tƣ duy phản biện”. Qua nhiều tài liệu khác nhau, có thể tìm thấy nhiều quan niệm về tƣ duy phản biện khác nhau, chẳng hạn nhƣ: Theo Beyer (Beyer (1995, tr.