CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY CHO HỌC SINH 1. Cơ sở lý luận về nhận thức và tư duy 1. Khái niệm nhận thức [20, tr. 71- 82] Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí).
Nó là tiền đề của 2 mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tượng tâm lý khác. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau. Có thể chia hoạt động nhận thức thành 2 giai đoạn lớn: - Nhận thức cảm tính: Cảm giác và tri giác. - Nhận thức lý tính: Tư duy và tưởng tượng.
Nhận thức cảm tính ( cảm giác và tri giác) Là một quá trình tâm lý, là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua tri giác của các giác quan. Cảm giác: Là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng. Tri giác: Phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo cấu trúc nhất định. Cảm giác và tri giác có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức.
Nếu như cảm giác là hình thức nhận thức đầu tiên của con người thì tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao nhất, có tính chủ động tích cực, có mục đích đó là sự quan sát, đó chính là sự phản ánh sự vật, hiện tượng bằng nhận thức cảm tính 1. Nhận thức lý tính Tưởng tượng: Là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Quan điểm của nhà tâm lí học Jean Piaget về phát triển năng lực nhận thức Những nghiên cứu của nhà tâm lí học nổi tiếng của người Thụy Sĩ – jean piaget về cấu trúc của quá trình nhận thức dựa trên nền tảng của môn Sinh học. Jean piaget đã quan tâm tới bản chất của quá trình phát triển tư duy hay nhận thức trong di truyền học, đó là quá trình phát triển của HS về nhận thức tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Jean piaget chia quá trình nhận thức thành 4 giai đoạn: + Giai đoạn thần kinh cảm nhận + Giai đoạn tiền hoạt động + Giai đoạn hoạt động cụ thể + Giai đoạn hoạt động chính thức Các lí thuyết nhận thức coi quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử lí thông tin. Bộ não xử lí các thông tin như một hệ thống kĩ thuật.
Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định hành vi ứng xử. Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà được hình thành qua kinh nghiệm. Trung tâm của lí thuyết là các hoạt động trí tuệ: Xác định, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa các sự kiện và đối tượng, nhớ lại những kiến thức đã biết, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.
Quá trình nhận thức khởi đầu bằng sự cảm nhận của người học về một hiện tượng mới. Chính người học phải tự mình phân tích, xử lí các thông tin, dữ liệu đã cảm nhận được để hiểu được hiện tượng mới và như vậy tự thu lượm được kiến thức mới. Mô hình của quá trình nhận thức [ 7, tr. Mô hình của quá trình nhận thức Một quá trình nhận thức thể hiện trong trí não chúng ta về thế giới xung quanh mình đó là các quá trình phân tích thông tin và xử lí các thông tin một số khác hướng vào nội tâm như những quá trình tư duy và tưởng tưởng.
Học sinh Quá trình nhận thức ( phân Kết quả đầu ra Thông tin đầu vào tích, tổng hợp, khái quát ( tri thức mới) ( Tri thức cũ) hóa, tái tạo… 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo mô hình này, tư duy và mọi cách nhận thức đều có thể tìm hiểu được bằng cách phân tích ra thành những bộ phận cấu thành. Thông tin đầu vào sẽ đi qua một loạt các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp. Khi thông tin đã đi qua hết các hệ thống của bộ não, những nội dung phức tạp sẽ được phân tích và sau đó giải mã, đơn giản hóa. Ta có thể hình dung nhận thức là một quá trình dây chuyền lắp ghép, được xây dựng từ những giai đoạn nguyên sơ như các cảm giác, tri giác cơ bản, tới những giai đoạn phức tạp hơn như lí luận và giải quyết vấn đề.
Giải pháp để phát triển năng lực nhận thức - Tập trung sự chú ý vào những kiến thức được học. - Từ kiến thức ban đầu, người học tư duy sáng tạo để mở rộng, hiểu sâu hơn những điều đã học và nghi nhớ lại theo những cách riêng của mình ( tự mã hóa kiến thức). - Tăng dần khả năng nhận thức lên mức độ cao của người học. Qui trình kĩ năng phát triển nhận thức được trình bày tóm tắt trong sơ đồ sau: Kiên Phát triển và Rèn Tự phát hiện và trì tập luyện tập luyện tìm cách điều luyện nhằm đạt và ghi chỉnh lệch lạc, một kỹ trình độ cao ở nhớ phát triển năng các kỹ năng kiến những suy nghĩ mới gồm nhiều thức để thành kiến thức trong thành phần, đạt đến phù hợp với mỗi cuối cùng đạt mô mục đích đã ngày kĩ năng tổng hình lý định thể tưởng Sơ đồ 1.
Qui trình phát triển kĩ năng nhận thức Nhận thức đúng các kiến thức cơ bản thông qua các bài học và cách thức tiến hành thí nghiệm hóa học đòi hỏi người học dựa trên giải pháp phát triển nhận thức kỹ năng nhận thức. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong việc phát triển năng lực nhận thức của HS, khâu trung tâm là phát triển năng lực tư duy, trong đó đặc biệt chú trọng rèn luyện cho HS một số thao tác tư duy và phương pháp tư duy. Vấn đề phát triển tư duy [ 20, tr.Tư duy là gì Là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Tư duy và trí tuệ dưới góc độ giáo dục a.
Hoạt động nhận thức và trí tuệ Hoạt động nhận thức được bắt đầu từ phôi thai của hành động đến các động thái cảu tư duy. Hành động nhận thức có thể được biểu hiện thành lời (kể, nói, tường thuật, khiếu nại, khẳng định …) hoặc không thành lời ( ghi nhớ, quyết định, so sánh, liên hệ…) Năng lực trí tuệ là thể hiện khả năng phản ứng của cá nhân đối với chất lượng của giao tiếp xã hội trong cộng đồng. Lớp học là nơi để học sinh thể hiện hợp tác trí tuệ, phê phán có ý thức, suy luận, khám phá… học sinh được động viên để nắm và khẳng định lại những nguyên tắc, ý tưởng, lập luận và lý giải. Thiếu năng lực trí tuệ, người học không thể thực hành nhận thức một cách hiệu quả.
Tư duy: “Dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật: Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước ”. Piaget định nghĩa tư duy như một dạng trí tuệ nội tâm, khác với trí tuệ giác – động (cảm giác – vận động), không chỉ dựa trên hành động và tri giác, bằng ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần…tư duy gắn với sự tái tạo tinh thần vv…Như thế các hoạt động xem như các thủ pháp hoạt động tư duy có thể phát triển thông qua các hoạt động dạy và học. Những phẩm chất của hoạt động trí tuệ Các đặc tính của hoạt động trí tuệ bao gồm: - Tính định hướng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Độ sâu của trí tuệ - Tính linh hoạt - Tính mềm dẻo - Tính độc lập - Tính logic - Tính phê phán - Tính khái quát - Năng lực hoạt động trí tuệ Tóm lại: Điều cần thiết để phát triển năng lực nhận thức và rèn tư duy cho HS trong dạy học hóa học là thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển trí tuệ, tạo sự thích ứng của quá trình dạy học nói chung, dạy học hóa học nói riêng với sự dạy học phát triển. Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy a.
Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến với việc phát triển tư duy cho HS thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ bản là công cụ của nhận thức. Tại sao phải rèn luyện cho học sinh phát triển tư duy - Thứ nhất: HS phải được trang bị đủ kiến thức để giành các cơ hội trong học tập, được thừa nhận trong xã hội. Nói chung hơn, là người học sẽ có điều kiện tốt hơn để thành công. - Thứ hai: Tư duy tốt sẽ là điều kiện tiên quyết giúp HS trở thành những công dân tốt, có khả năng tư duy phê phán, có những quyết định thông minh để tìm ra các giải pháp thích hợp đối với những vấn đề của xã hội và cuộc sống.
- Thứ ba: Có khả năng tư duy tốt sẽ giúp HS luôn điều chỉnh mình để có trạng thái tâm lý tốt. Trạng thái tâm lý tốt giúp HS có được thái độ tích cực đối với cuộc sống… - Thứ tư: Giúp HS có bộ óc thông minh, tỉnh táo để phát hiện và giải quyết những vấn đề phức tạp, những lạc hậu cản trở sự tiến bộ, những đe dọa cuộc sống… Để đạt được những phẩm chất tư duy trên, trong quá trình dạy học chúng ta chú ý rèn luyện cho HS các thao tác tư duy như thế nào. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tư duy hóa học – đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh 1.
Tư duy hóa học [ 7 , tr.10 - 11] Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học nghiên cứu các vật chất và các qui luật chi phối quá trình biến đổi này.