CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về tín dụng tiêu dùng - Tác giả Gottfried Haberler (1942) đã nghiên cứu về tín dụng trả góp trong đề tài “Consumer Installement Credit and Econimic Fluctuations -Tín dụng tiêu dùng trả góp và biến động kinh tế”, phân chia tín dụng trả góp thành tín dụng tiền mặt và tín dụng mua hàng. Tín dụng tiền mặt hay tín dụng trực tiếp trong đó người đi vay sẽ nhận được tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản từ người cho vay để chi tiêu vào nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Tín dụng mua hàng hay tín dụng gián tiếp trong đó người cho vay sẽ giải ngân gián tiếp vào tài khoản của người bán hàng và người đi vay sẽ nhận được hàng hóa từ người bán hàng. So với tín dụng tiền mặt thì tín dụng mua hàng có xu hướng phát triển mạnh mẽ hơn nhờ các nguyên nhân: hoạt động tín dụng gắn liền với hoạt động mua hàng đã thúc đẩy tổ chức cho vay gắn kết với trung gian phân phối sản phẩm để tạo điều kiện cho khách hàng có thể mua hàng được dễ dàng thông qua các khoản vay được cấp nhanh chóng và thuận tiện. Khách hàng thường ra quyết định vay nhanh chóng nhờ sự tham gia kịp thời của bên cho vay trong quá trình mua hàng. Các chương trình xúc tiến bán hàng do chính trung gian phân phối triển khai kèm theo chương trình ưu đãi về lãi suất, tặng quà và hoàn tiền.
cũng là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy tín dụng hàng hóa. Ban đầu, các khoản cho vay được cung cấp bởi chính các trung gian phân phối sản phẩm với quy mô nhỏ. Nhờ sự tham gia mạnh mẽ của các TCTD và phi tín dụng như NHTM, CTTC đã góp phần thúc đẩy tiêu dùng, dẫn tới tín dụng mua hàng có sự tăng trưởng nhanh chóng. - Theo tác giả Gloria M.
Theo tác giả, tín dụng trả góp là phương thức cấp tín dụng trong đó số nợ gốc được chia ra làm nhiều kỳ để trả nợ chứ không trả hết một lần. Gốc có thể được chia đều để trả trong các phân kỳ trả nợ trong suốt thời gian vay vốn hoặc có thể trả nhiều hơn hoặc ít hơn trong các phân kỳ trả nợ tùy thuộc vào năng lực trả nợ của khách hàng và chấp nhận của tổ chức tín dụng. Gốc và lãi được khách hàng thanh toán định kỳ với thời gian thanh toán được thỏa thuận giữa tổ chức tín 9 dụng và khách hàng vay vốn. Hình thức TDTD trả góp thường được tổ chức cho vay cung ứng cho khách hàng như cho vay tiền mặt, cho vay mua hàng, các hình thức thuê mua có phương thức trả gốc và lãi đề cập ở trên.
Tín dụng tuần hoàn là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng theo hạn mức tín dụng, người vay có thể sử dụng tối đa số tiền trong hạn mức đã được phê duyệt. Hình thức tín dụng này khác biệt với tín dụng trả góp ở phương thức sử dụng khoản vay và trả nợ, cụ thể: người vay có thể giải ngân nhiều lần miễn là số tiền giải ngân mới và dư nợ tín dụng đang không vượt quá hạn mức tín dụng. Khách hàng được phép trả nợ khoản vay tại bất cứ thời điểm nào trong thời gian của hạn mức tín dụng mà không chịu lãi suất phạt trả nợ trước hạn. Các sản phẩm chủ yếu được các tổ chức tín dụng và phi tín dụng cung ứng theo loại hình tín dụng này là thẻ tín dụng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra các đặc điểm sản phẩm TDTD theo từng loại hình TDTD trên thị trường và các rủi ro gắn liền với TDTD. Nghiên cứu có giá trị khoa học để tham khảo về các loại hình TDTD, các sản phẩm TDTD, đặc trưng của TDTD khi thực hiện nghiên cứu luận án. - PWC (2014), nghiên cứu “Personal Loan market in Poland -Thị trường cho vay cá nhân Ba Lan” tập trung vào việc nghiên cứu hoạt động của các CTTC tiêu dùng tại Ba Lan. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, hoạt động TDTD có vai trò quan trọng trong việc tạo ra công cụ tài chính tiếp cận nhu cầu tiêu dùng đa dạng của các KHCN trong khi các NHTM tại Ba Lan còn đang hạn chế về mặt hoạt động và các sản phẩm tín dụng cá nhân.
Trong nghiên cứu, PWC thực hiện sự phân tích đa dạng nhiều loại hình CTTC đang hoạt động tại Ba Lan để có các kết luận chính xác và đánh giá được tác động của các yếu tố bên ngoài đến các nhóm CTTC này, đặc biệt là yếu tố môi trường pháp lý. Young and Cộng sự (2018), nhóm tác giả đã chỉ ra trong nghiên cứu “Personal Finance Companies and Their Credit Practices -Công ty tài chính cá nhân và thực tiễn hoạt động tín dụng” rằng hoạt động cho vay tiêu dùng trả góp thường tập trung vào hai nhóm cho vay tiền mặt và cho vay tài trợ mua hàng. Mặc dù đa phần việc cho vay tiền mặt đều dẫn tới người vay chi trả cho một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó và có liên hệ mật thiết với cho vay tài trợ mua hàng nhưng cần phải phân biệt rõ hai hình thức cho vay này và xây dựng các cơ sở luật để quy định rõ hoạt động cho vay của các CTTC tiêu dùng đối với 2 nhóm cho vay này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra các đặc trưng của loại hình TDTD của CTTC so với các tổ chức tín dụng ở một số khía cạnh: khoản vay có giá trị nhỏ, lãi suất cho vay cao so với NHTM, khách hàng chủ yếu là cá nhân và có mức thu nhập trung bình trong xã hội, nội dung vay vốn để thanh toán các khoản mua hàng hóa dịch vụ như nội thất, đồ 10 gia dụng, đồ điện máy, phương tiện đi lại và các chi tiêu phục vụ đời sống tinh thần như du lịch, y tế, giáo dục… 1.
Các nghiên cứu về phát triển tín dụng tiêu dùng - Luisa Anderloni (2010), “The Profitability of the Consumer Credit Industry: Evidence from Europe -Lợi nhuận của ngành tín dụng tiêu dùng: Minh chứng từ các nước Châu Âu”. Bài viết tập trung vào lợi nhuận của ngành TDTD ở châu Âu. Sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính của các công ty TDTD, nghiên cứu thực hiện điều tra ảnh hưởng của các yếu tố đặc thù của thị trường và cụ thể đến lợi nhuận của một mẫu các công ty TDTD của Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha trong giai đoạn 2005-2007. Kết quả nhấn mạnh rằng, trong số các yếu tố quyết định ở cấp độ doanh nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ trong việc cho vay đối với các hộ gia đình là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến lợi nhuận.
Liên quan đến các yếu tố đặc thù của thị trường, lợi nhuận của các công ty TDTD bị ảnh hưởng tích cực bởi quy mô của thị trường và được xác định tiêu cực bởi mức độ gánh nặng nợ của hộ gia đình. - Trong nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Thực (2014) “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Agribank”. Theo nghiên cứu của tác giả, hoạt động cho vay tiêu dùng của Agribank chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế cạnh tranh sẵn có. Phát triển cho vay tiêu dùng sẽ giúp Agribank khai thác hết tiềm năng nhằm ở rộng kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và gia tăng lợi nhuận.
Trong phần cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng, tác giả cho rằng “phát triển cho vay tiêu dùng được hiểu là gia tăng cả về quy mô và chất lượng khoản vay”. Tác giả đã sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá phát triển cho vay tiêu dùng của Agribank trong giai đoạn 2011-2013 về mặt lượng và chất như tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay, tỷ lệ tăng trưởng số lượng khách hàng, tỷ lệ nợ xấu. Kết hợp cơ sở lý thuyết và đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng của Agribank, tác giả đã đánh giá các nguyên nhân của hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp để phát triển cho vay tiêu dùng của Agribank trong giai đoạn tiếp theo. Tuy công trình chưa đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển TDTD dưới góc độ CTTC và đối tượng khách hàng dưới chuẩn nhưng có giá trị tham khảo về phương thức phát triển TDTD về mặt lượng và chất.
- Sharron Worton and Asssociates (2014), trong nghiên cứu “Consumer credit research: low income consumers - Nghiên cứu tín dụng tiêu dùng: người tiêu dùng thu nhập thấp” đã chỉ ra người tiêu dùng có thu nhập thấp đặc biệt dễ bị nợ nần do tình trạng tài chính hộ gia đình và hiểu biết hạn chế đối với các sản phẩm tài chính. Điều này đã được thúc đẩy bởi nhiều nhân tố xuất phát từ chính người tiêu dùng như áp lực trả nợ lên ngân sách gia đình, thiếu kinh nghiệm về tài chính cá nhân, thiếu nhận thức 11 về nghĩa vụ thanh toán. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cần thiết để thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng an toàn, hiệu quả. - Tác giả Nguyễn Thùy Chi (2014), trong đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại CTTC tài chính Dệt may”, tác giả đã tập trung nghiên cứu về rủi ro tín dụng, các nguyên nhân, dấu hiệu và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các CTTC.
Đồng thời công trình đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về CTTC và các nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng tại CTTC, trên cơ sở đó đưa ra các mô hình quản trị rủi ro và điều kiện áp dụng. Công trình cũng phân tích khá rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo an toàn tín dụng ở các CTTC, đó là môi trường kinh tế, chính sách tín dụng, lãi suất và quản lý rủi ro lãi suất, năng lực kinh doanh của khách hàng và định hướng quản lý rủi ro của CTTC. Nghiên cứu chưa đi sâu làm rõ được mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng của các CTTC và mô hình quản trị rủi ro phù hợp với năng lực và từng loại hình CTTC tại Việt Nam. - Tác giả Nguyễn Hồng Thảo (2014) với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng CTTC Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC)”, cho rằng biểu hiện quan trọng nhất tình hình rủi ro tín dụng của của TCTD nói chung và của PVFC nói riêng là chất lượng tín dụng.