CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có GD. Do đó, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau nhằm tìm kiếm các mô hình, các biện pháp để tổ chức, QL phát triển GD, phát triển nhà trường trong điều kiện KT thị trường. Theo những nghiên cứu này, chúng ta không thể phủ nhận những tác động của KT thị trường đối với GD.
Tuy nhiên, GD không thụ động trước những tác động của các qui luật KT thuần tuý. GD có bản chất xã hội, vì vậy, sự phát triển của GD là hướng đến con người, vì con người. Giáo dục linh hoạt trong việc vận dụng các qui luật của KT thị trường để phát triển vì mục đích nhân văn của mình. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hướng tới nền KT tri thức cần phải và có thể rút ngắn thời gian trên cơ sở vừa có bước đi tuần tự vừa có bước nhảy vọt, đi tắt, đón đầu.
Chúng ta đang đồng thời chuyển từ nền KT nông nghiệp sang nền KT công nghiệp và chuyển từ nền KT công nghiệp sang nền KT tri thức. Do vậy, GD đại học cần phát triển theo mô hình hai tốc độ: phát triển nhanh đi tắt, đón đầu và mở rộng đào tạo đại trà đáp ứng nhu cầu phổ cập nghề cho người lao động để tìm kiếm việc làm và tự tạo việc làm. Theo đó, những nghiên cứu về GD đại học được triển khai rất đa dạng. Các nghiên cứu này tập trung vào các hướng: - Nghiên cứu hoàn thiện mô hình trường CĐ, ĐH trong cơ cấu hệ thống GD quốc dân.
- Nghiên cứu đổi mới hoạt động đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học theo định hướng và yêu cầu của đổi mới GD. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghiên cứu QL nhà trường, QL các hoạt động của trường CĐ, ĐH. Ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Australia., khái niệm thương hiệu GD là hết sức quen thuộc, các trường học dù có quy mô lớn nhỏ đều hết sức quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, củng cố và bảo vệ thương hiệu cũng như thực thi những biện pháp hữu hiệu trong đó có công tác marketing và để quảng bá TH. Theo đó, rất nhiều công ty tư vấn marketing GD ra đời như ở Anh Quốc có hai công ty rất nổi tiếng là Marketing Network và Marketing works.
Các công ty này đáp ứng nhu cầu quảng bá TH của các trường học từ cấp tiểu học đến ĐH và có nhiệm vụ tư vấn cho các trường học cách thu hút thị trường GD mục tiêu, tiếp thị chuyên ngành đào tạo, chiến lược phát triển thương hiệu. Những nghiên cứu về vấn đề thương hiệu trong GD nói chung, thương hiệu trong GD đại học nói riêng ở Việt Nam còn rất hạn chế. Trong khi đó, theo lí thuyết QL, thương hiệu là vấn đề sống còn với tổ chức, bởi môi trường của tổ chức luôn tiềm ẩn hoặc đang diễn ra những quan hệ cạnh tranh ở những mức độ khác nhau. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11/2006, Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) chính thức có hiệu lực tại Việt Nam.
Trong đó dịch vụ thương mại GD đã nằm trong khuôn khổ hiệp định này. Đặc biệt, sau Đại hội Đảng lần thứ X, các kế hoạch phát triển hệ thống giáo dục đại học đã được nhấn mạnh. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác củng cố và phát triển thương hiệu các trường CĐ, ĐH dựa trên các tài liệu, kinh nghiệm của các nước có nền GD tiên tiến và qua thực trạng thực hiện các biện pháp này của các trường CĐ, ĐH là rất cần thiết. Vấn đề Thương hiệu trong quản lí giáo dục 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lí 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động quản lí là hoạt động mang tính xã hội, bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi phải có kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Tức là cần có yếu tố quản lí.
Quản lý tồn tại và phát triển cùng với hoạt động sống của con người. Cuộc sống của con người là dòng chảy các hoạt động, vì thế quản lý rất đa dạng và phức tạp. Mặc dù các tác giả có các định nghĩa khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất những dấu hiệu chung của quản lý như sau: - Quản lý, xét cho cùng là sự tác động của chủ thể quản lý vào tổ chức, trong đó chủ yếu tác động vào hoạt động của con người nhằm đạt mục tiêu kinh tế- xã hội nhất định đồng thời cũng là mục tiêu của tổ chức. - Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống.
Điều đó có nghĩa: Phải có chủ thể quản lí là tác nhân tạo ra các tác động. Chủ thể quản lí có thể là một người hay một nhóm người; Có đối tượng quản lí tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lí. Đối tượng quản lí có thể là một người hay một nhóm người, giới vô sinh hoặc giới sinh vật; Có mục tiêu quản lí được đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng quản lí, mục tiêu này là căn cứ, là định hướng cho chủ thể tạo ra các tác động; Chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí bằng các phương pháp quản lí và dựa trên những công cụ quản lí. Với phân tích trên, tác giả thống nhất và sử dụng khái niệm QL dưới đây làm khái niệm công cụ trong nghiên cứu của mình.
“QL là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể QL theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng QL nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động.6] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Muốn thực hiện được mục tiêu quản lý đề ra, nhiệm vụ của quản lý là phải sắp xếp các nguồn lực của tổ chức một cách khoa học và sáng tạo khi xử lý các tình huống, hoàn cảnh cụ thể khác nhau trong hoạt động của tổ chức. Đồng thời, nhà quản lý phải biết tác động đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương pháp, phương tiện phù hợp với quy luật khách quan, cũng như phải chuyển những kinh nghiệm thực tiễn đã được đúc kết, khái quát thành những nguyên tắc, phương pháp kỹ năng quản lý cần thiết. Với những ý nghĩa trên, hoạt động quản lý vừa mang tính khoa học cao vừa có tính nghệ thuật. Quản lí giáo dục và quản lí trường học - Quản lý giáo dục Định danh quản lý giáo dục thực ra là trả lời câu hỏi “quản lý giáo dục là gì ?”.
Trong tiếng Việt, từ quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó. Ở Việt Nam giáo dục xưa thường được hiểu chủ yếu là giáo dục nhà trường. Ngày nay, giáo dục được hiểu một cách hiểu đầy đủ hơn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng xác định: Giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần mà nó được gắn với quá trình phát triển xã hội, việc học là của mọi người dân: mọi người đều đi học và học thường xuyên suốt đời, cả nước trở thành một xã hội học tập.
Do vậy, giáo dục không chỉ là giáo dục nhà trường mà cả giáo dục ngoài nhà trường và giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho tất cả mọi người và huy động sự tham gia của tất cả các lực lượng xã hội góp sức cho giáo dục. Cho nên QLGD cũng có thể hiểu là: sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là dạng đặc thù của quản lý, quản lý giáo dục cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và có đầy đủ các đặc điểm và nội dung của hệ thống quản lý nói chung. - Quản lý nhà trường Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý nhà trường cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với những quyền hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ.
Các nội dung chủ yếu của quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường bao gồm : (i) Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống giáo dục; (ii) Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội của mình với sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài nhà trường; (iii) Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi giáo viên; (iv) Hình thành các cơ cấu cần thiết và thiết thực để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên tham gia quá trình ra quyết định quản lý trong nhà trường; (v) Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết khác để giáo viên thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường. Hình thành cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện thậm chí cải tiến thích hợp nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường; (vi) Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong và ngoài nhà trường tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà trường; 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.