Chương 1: THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 1. Thư viện điện tử 1. Khái niệm thư viện điện tử Thư viện điện tử (TVĐT) là một khái niệm còn khá mới mẻ trong những năm 1990 không chỉ ở Việt Nam mà còn trên cả thế giới. Cho đến nay, khái niệm này đã khá quen thuộc với nhiều người trong giới chuyên môn.
Tuy nhiên, ngay cả trong từ điển thuật ngữ chuyên ngành chưa có một khái niệm chính thức nào được công nhận, do đó tồn tại nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau, đôi khi còn dùng lẫn lộn với các khái niệm: Thư viện (TV) không biên giới, TV được nối mạng, TV ảo (TVA). Sự xuất hiện những khái niệm khác nhau này liên quan đến sự bùng nổ thông tin (TT) theo cấp số nhân, xuất hiện công nghệ giấy điện tử, mô hình xuất bản điện tử mới, nhà sách trực tuyến, thương mại điện tử (E – commerce), truyền hình kỹ thuật số (Digital television), môi trường học tập tích hợp (intergrated learning environment), trường đại học (ĐH) điện tử (E – Universities), truyền thông di động (mobile Communication), in ấn theo nhu cầu (Printed in Demand). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có hai lý do để có nhiều cách hiểu khác nhau về các khái niệm: Thứ nhất: chưa có định nghĩa rõ ràng, nhiều thuật ngữ khác nhau đã được cộng đồng TV dùng trong một thời gian dài để đề cập đến khái niệm TVĐT, TVA, TV không tường mà không xác định rõ ràng nội hàm các thuật ngữ ấy khác nhau như thế nào. Thứ hai: nhiều lĩnh vực không phải TV dùng thuật ngữ TVĐT, TVS để chỉ những khái niệm không phải là TV theo quan niệm của người làm công tác TV.[16] Theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research Library) thì các thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội dung [31, tr.8] Theo quan điểm của Collier (1995) thì TVĐT được định nghĩa như là một môi trường gồm các tài liệu dưới dạng điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp một lượng TT lớn thông qua các máy tính hoặc các mạng viễn thông quốc tế [47, tr.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Theo đó Collier đã chú trọng đến loại hình tài liệu được lưu giữ và sử dụng trong TVĐT chủ yếu là tài liệu điện tử. Gary Gorman thì cho rằng TVĐT chính là TVS [47, tr. Phillip Barker (1997) cho rằng: Trong TVĐT có sử dụng rộng rãi máy tính và các phương tiện hỗ trợ khác (bảng tra trực tiếp, tìm văn bản đầy đủ, lưu các biểu ghi tự động hoá, ra các quyết định bằng máy tính,…) Tác giả nhấn mạnh đặc trưng của TVĐT là sử dụng phổ biến các phương tiện điện tử trong lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp TT. Theo ông trong TVĐT, ngoài ấn phẩm điện tử vẫn còn tồn tại cả sách truyền thống [47, tr.
Tác giả Sylvie Tellier (1997) người Canada đưa ra định nghĩa như sau: TVĐT là TV có sử dụng hệ thống máy vi tính và các hệ thống phụ kiện của nó để lưu trữ, xử lý, cung cấp dịch vụ TT cho người sử dụng. Theo cách hiểu như vậy thì TVĐT ở đây có sử dụng máy tính trong việc quản lý, lưu trữ và phục vụ tìm kiếm TT [47, tr. Như vậy, quan điểm của Sylvie Tellier và Phillip Barker là giống nhau đều cho rằng trong TVĐT có sử dụng phương tiện điện tử trong việc lưu trữ, xử lý và cung cấp TT. Ở Việt Nam, khái niệm TVĐT còn tương đối mới mẻ, xuất phát từ thực tiễn phát triển TVĐT còn chậm, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác TV có phần muộn hơn so với các nước trong khu vực.
Các công trình nghiên cứu về TVĐT cũng chưa nhiều. Cho đến nay có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này: Năm 1998 trong bài tham luận: “Tính khả thi trong việc xây dựng TVĐT ở Việt Nam” trong đó tác giả Vũ Văn Sơn đưa ra quan điểm của ba nhóm như sau: Nhóm thứ nhất cho rằng: TVĐT là TVS hoá, tức là TV không có sách, TT dưới dạng số và được lưu giữ trên các phương tiện khác nhau: bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Nhóm thứ hai cho rằng: TVĐT là TV tự động hoá, trong đó có sử dụng, lưu trữ cả các phương tiện truyền thống lẫn hiện đại. Quan điểm này cũng giống quan điểm của Phillip Barker. Nhóm thứ ba cho rằng: TVĐT là TV sử dụng mạng trong việc lưu trữ, bảo quản và phổ biến TT.
Trong bài viết “Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập tài liệu số” của tác giả Hoàng Đức Liên và Nguyễn Hữu Ty có đưa ra định nghĩa TVĐT như sau: “Một hệ thống TT trong đó các nguồn TT đều có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng, bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tím kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số” [18]. Quan điểm của tác giả cũng cho rằng nguồn lực TT của TVĐT bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã số hoá. Như vậy, với những quan điểm khác nhau, đến nay vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm này. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung lại TVĐT có một số đặc điểm sau: - TV phải có vốn tư liệu điện tử (là những tư liệu được lưu trữ dưới dạng điện tử sao cho có thể truy nhập được bằng các thiết bị tin học).
- Phải được tin học hoá, phải có một hệ quản trị TV tích hợp (bổ sung, biên mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lưu thông tư liệu, tổ chức mục lục truy nhập công cộng trực tuyến,…) phải nối mạng (ít nhất là mạng cục bộ). - Phải cung cấp và tạo điều kiện cho người sử dụng các dịch vụ điện tử (yêu cầu và gia hạn mượn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu (CSDL), truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác). Tóm lại: TVĐT là TV trong đó có môi trường gồm các tài liệu điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp thông tin thông qua các máy tính và các mạng viễn thông. Thư viện số: Như trên đã nói theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research Library) các thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội dung.
Tuy nhiên, còn có các quan điểm khác nhau không chỉ ở Việt Nam mà cả thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 giới, để hiểu rõ bản chất của các khái niệm TVS, TVA, TV đa phương tiện, cần có sự phân tích cụ thể như sau: TVS theo quan điểm của liên đoàn TVS (1993): “Các TVS là các tổ chức cung cấp các nguồn lực – tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế” [31, tr. Theo Michael Lesk (1997): “Các TVS là các bộ sưu tập TT số hoá được tổ chức. Chúng bao gồm việc cấu trúc và thu thập TT là các công việc mà các TV truyền thống vẫn luôn phải làm và các máy tính có nhiệm vụ trình bày các TT số đó,…Một TVS thực sự cũng tạo ra các nguyên tắc quản lý những yếu tố cấu thành TV và các phương thức tổ chức TV” [31, tr8]. Theo Borgman (1999): “Các TVS là một tập hợp các nguồn TT số và các công cụ kỹ thuật tương ứng để tạo lập, tìm kiếm và sử dụng TT” [31, tr.
Ian Written định nghĩa: TVS là một tập hợp những bộ sưu tập TT của các đối tượng số hoặc đã được số hoá có tổ chức và tập trung. Tập trung theo đề tài hay chủ đề và có tổ chức để TT dễ truy cập và lưu trữ theo những tiêu chuẩn chuyên biệt cung cấp hai chức năng chính: - Phương thức truy cập, chọn lọc, hiển thị tài nguyên số (dành cho người sử dụng); - Phương thức xây dựng, tổ chức và lưu hành (dành cho cán bộ TV)[9]. Theo Fox (1993): TVS là tập hợp của các máy tính số, các thiết bị máy móc lưu trữ và trao đổi TT cùng với bối cảnh số và phần mềm cần thiết để sản xuất và cung cấp các dịch vụ TT - TV tương tự như các TV truyền thống vẫn làm đối với tài liệu giấy và các loại hình tài liệu truyền thống khác trong quá trình thu thập, biên mục, tìm kiếm và phổ biến TT,…Một TVS đúng nghĩa và hoàn chỉnh phải bao gồm tất cả các dịch vụ cơ bản của TV truyền thống, đồng thời tận dụng được các lợi thế của việc lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp TT số hoá. [24] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 TVS theo G.
Cleveland có một số đặc điểm sau: [49]. - Là phương diện (bộ mặt) số của TV truyền thống mà ở đó lưu trữ các sưu tập tài liệu số và tài liệu truyền thống (trên giấy và trên vật mang khác); - Bao gồm cả tư liệu tồn tại bên ngoài biên giới vật lý và hành chính của TV; - Bao gồm các quá trình và dịch vụ nòng cốt và trung tâm của hệ thống TV. Tuy nhiên, các quá trình và dịch vụ truyền thống sẽ phải được thay đổi cho phù hợp với TVS; - Cung cấp TT có trong TV mà không phụ thuộc vào loại hình và khổ mẫu của chúng; - Phục vụ một hoặc một số cộng đồng bạn đọc/người dùng tin, nhưng khác với TV truyền thống, những cộng đồng này có thể phân tán, đến khai thác TV thông qua mạng máy tính; - Cần có các cán bộ với kỹ năng của người cán bộ TV cũng như kỹ năng của người cán bộ tin học. Quan điểm của tác giả Vũ Văn Sơn cho rằng: TVS là tập hợp các thiết bị tính toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của TV truyền thống (thu thập, biên mục, tìm kiếm và phổ biến TT).
Một TVS hoàn chỉnh phải thực hiện tất cả các dịch vụ cơ bản của TV truyền thống kết hợp với việc khai thác các lợi thế của công nghệ lưu trữ, tìm kiếm và truyền thông số [32]. Ông cũng cho rằng TVS là bước tiến xa hơn của TVĐT, cho phép đọc được TT toàn văn sau khi số hoá hầu hết tư liệu, đặc biệt là các tư liệu dưới dạng đồ họa (như tranh ảnh, bản đồ,…) và đa phương tiện (multimedia) nói chung.