CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1. Những vấn đề chung về hàng thủ công mỹ nghệ và thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 1. Khái niệm, đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ 1. Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng thuộc các làng nghề truyền thống nên thường chứa đựng trong nó những yếu tố văn hoá đặc sắc của từng dân tộc.
Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng thể hiện qua sắc thái của mỗi sản phẩm, chính điều này tạo nên sự độc đáo, khác biệt giữa các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở các quốc gia khác nhau. Mặt hàng thủ công mỹ nghệ thường mang tính thẩm mỹ cao nhờ nét tinh xảo và độc đáo thể hiện qua kiểu dáng, hoa văn, đường nét trên mỗi sản phẩm. Chúng được tạo ra nhờ sự khéo léo của những người thợ thủ công sản xuất bằng tay là chủ yếu nên sản phẩm này rất phong phú về mẫu mã, kiểu dáng song chất lượng thường không đồng đều, khó tiêu chuẩn hoá. Mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu tại nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam.
Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế với các nước trên thế giới, mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước Châu Âu, Châu á, Nam Mỹ, Châu úc,. và đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Ngành nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) là một bộ phận quan trọng của ngành nghề thủ công truyền thống (TCTT). Ngành nghề TCMN có vài trò rất lớn trong quá trình phát triển ngành nghề TCTT của Việt Nam, sản phẩm tủ công mỹ nghệ là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo với đầu óc sáng tạo nghệ thuật.
Theo Trần Văn Kinh, 2002, hàng thủ công mỹ nghệ là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng tạo nghệ thuật. Mô hình của ông Trần Văn Kinh được biểu diễn như sau: 5 Phương pháp thủ Sự sáng tạo Hàng thủ công mỹ + -> công tính xảo nghệ thuật nghệ Hàng TCMN/sản phẩm TCMN được hiểu là một loại hàng thủ công/sản phẩm thủ công được dùng cho mục đích thưởng thức nghệ thuật và trang trí nhà cửa, nội thất của khách hàng. Ngành nghề TCMN bên cạnh các yếu tố cấu thành nó có những nét đặc thù riêng, đó là: sản phẩm tiêu biểu và đọc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính yếu tố nghệ thuật, văn hóa vật thể là một đặc thù hết sức quan trọng của hàng thủ công mỹ nghệ.
Sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân và thợ thủ công để tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ đã kéo theo những đặc thù khác trong sự phát triển của ngành nghề TCMN và được xem như những tiêu chí của ngành nghề này: - Tính riêng, đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt - Chiều sâu nhiều hơn chiều rộng, mang tính trường phái, giữ bí quyết trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi - Đầy chất trí tuệ, tri thức tích tụ lâu đời - Sử dụng hàng thủ công đồng thời thưởng thức nó nữa (thưởng tức nghệ thuật và tư tưởng, trí tuệ) 1. Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ Sản phẩm hàng thủ công nghiệp rất đa dạng và phong phú, nó có thể được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc. Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ. Nhìn chung, trong giá trị sản phẩm của hàng thủ công mỹ nghệ hao phí lao động sống chiếm phần lớn, đó là lao động thủ công của con người.
Sản phẩm của hàng thủ công mỹ nghệ thường được chia làm 3 loại: - Sản phẩm dân dụng được tiêu dùng phổ biến trong dân. - Sản phẩm mỹ nghệ được tiêu dùng bởi những người sành chơi, những người thuộc tầng lớp thượng lưu và những người có thu nhập cao. - Sản phẩm xuất khẩu. 6 * Đặc điểm về công nghệ, công cụ Hệ thống công cụ của hàng thủ công mỹ nghệ xưa thường là các công cụ thủ công và đơn giản.
Nhưng nay nhiều khâu trong sản xuất của hàng thủ công mỹ nghệ đã được trang bị máy móc như máy cưa, máy bào, máy lộng. Các công nghệ hiện đại hơn được trang bị như lò nung tuy nen (nghề gốm sứ), lò đúc cao tần (nghề rèn), dây truyền sản xuất giấy (nghề giấy). Mặt khác, trong các làng nghề, các nghệ nhân với các bí quyết nhà nghề đã tạo nên sản phẩm độc đáo của riêng mình. Việc “học mót” công nghệ rất khó khăn và các công nghệ thường được duy trì lâu bền một cách bí mật trong từng gia đình hoặc từng dòng họ, thậm chí qua nhiều hế hệ và các làng nghề mới chỉ có thể tạo ra được các sản phẩm thông dụng cấp thấp hoặc phần thô của sản phẩm.
* Đặc điểm về lao động Lao động ngành nghề hàng thủ công mỹ nghệ trong nông thôn có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau. Lao động ngành hàng thủ công mỹ nghệ trong nông thôn và lao động nông nghiệp có gắn kết chặt chẽ với nhau; do quy mô hộ gia đình là chủ yếu mà lao động thủ công nghiệp gắn kết với lao động nông nghiệp. Lúc này, giờ này làm thủ công nghiệp nhưng lúc khác giờ khác lại làm nông nghiệp; có những nơi ngành hàng thủ công mỹ nghệ được quan tâm chú trọng hơn trong thời điểm nông nhàn; Nhiều nơi ngành nghề hàng thủ công mỹ nghệ mặc dù tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn. Do nhu cầu mở rộng quy mô, trong nguồn lao động nông thôn có một bộ phận lao động được tách ra chuyên làm hàng thủ công mỹ nghệ.
Ngoài lao động gia đình, các cơ sở sản xuất còn phải thuê lao động (Bát Tràng, Ninh Hiệp, Đồng Kỵ, Đa Hội, Tương Giang, Phù Khê. là những nơi có nhiều lao động làm thuê). Điều đặc biệt, trong các làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỷ suất sử dụng lao động rất cao và hầu như tất cả mọi người (từ trẻ em đến người già) đều có việc làm. * Đặc điểm về nguyên, nhiên liệu Tính chất đa dạng của sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ tạo nên sự phong phú về các loại nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất.
Mỗi loại sản phẩm cần có một hệ thống nguyên liệu tương ứng. Trong đó những nguyên liệu chính chiếm tỷ trọng lớn về khối 7 lượng vật chất và chi phí sản xuất như: gỗ trong nghề mộc, đất sét cao lanh trong nghề làm gốm sứ, đồng trong nghề đúc đồng, sợi trong nghề dệt, phôi thép trong nghề cán thép. và một số nguyên liệu khác tuy không lớn nhưng không thể thiếu cho một sản phẩm trọn vẹn (ốc, trai trong khảm trai, men trong sản xuất đồ gốm sứ, các chất nhuộm trong nghề dệt. mà việc sử dụng chúng đã thành bí quyết nhà nghề).
Bên cạnh đó là các nhiên liệu (than cho nghề sắt thép, nghề gốm; gas cho nghề gốm; điện cho hầu hết các nghề.) * Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất - Trước đây hình thức tổ chức sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thường đơn giản, nhưng ngày nay đã xuất hiện nhiều hình thức tổ chức sản xuất mới: - Xét theo hình thức sở hữu có các loại: Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, liên doanh, hộ sản xuất. - Xét theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng hàng thủ công mỹ nghệ; các cơ sở vừa làm hàng thủ công mỹ nghệ vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; các cơ sở vừa sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp. - Xét theo hình thức tổ chức sản xuất có: cơ sở sản xuất toàn bộ mọi chi tiết của sản phẩm, sản xuất gia công một bộ phận sản phẩm hay một công đoạn sản phẩm. * Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ được hình thành từ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm.
Nhu cầu tiêu dùng thường được phân chia thành các nhóm sau: Sản phẩm tiêu dùng dân dụng được tiêu dùng khá phổ biến ở các tầng lớp dân cư. Đối với loại sản phẩm này do công nghệ sản xuất thấp, dễ bắt chước nên nhiều nơi có thể sản xuất được. Vì vậy cung về sản phẩm ngày một tăng, dẫn đến tình trạng ùn tắc sản phẩm, ảnh hưởng đến sự phát triển của một số ngành nghề. Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp.
Khi cuộc sống nâng cao, người ta tiêu dùng sản phẩm cao cấp nhiều hơn. Vì vậy nhu cầu về sản phẩm này ngày càng cao, không chỉ về số lượng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lượng sản phẩm. Sản phẩm xuất khẩu bao gồm cả sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ dân dụng và sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp. Người nước ngoài rất ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam và trầm trồ về những nét đẹp hài hoà, chứa đựng nhiều điển tích, hoa văn tinh tế và tính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay khéo léo của thợ thủ công.
8 Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối lượng ngày càng lớn ở Đài Loan, Úc, Nhật. Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộng khắp ở Châu Âu. Khách du lịch nước ngoài thường bỏ ra hàng giờ, nhiều lần để ngắm nhìn và lựa chọn những món quà đặc sắc được làm từ hòn đất, cành tre, khúc gỗ, xương thú, sừng, thổ cẩm, sợi đay, bẹ ngô, kim loại. đơn sơ như cuộc sống đời thường của người Việt Nam nhưng rất có hồn.
Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 1. Khái niệm thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Thị trường vốn là một phạm trù gắn liền với nền kinh tế hàng hoá. Thị trường của doanh nghiệp được phân chia thành thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Thị trường đầu vào được hiểu là khả năng cung ứng các yếu tố cho sản xuất như nguyên vật liệu, sức lao động, nguồn vốn, công nghệ.