phần mở đầu, 03 chương, kết luận, 02 phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trƣờng khoa học công nghệ. Chƣơng 2: Thực trạng hình thành và phát triển thị trƣờng khoa học công nghệ ở Việt Nam Chƣơng 3: Những Quan điểm và giải pháp cơ bản thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng khoa học công nghệ ở Việt Nam CHƢƠNG 1 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƢỜNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ---------------------- 1.1 Khái luận về thị trƣờng khoa học công nghệ: 1.1 Các khái niệm cơ bản về khoa học công nghệ: Hoạt động khoa học công nghệ, là một bộ phận quan trọng bậc nhất trong tổng thể các hoạt động của nền kinh tế trong đó quan trọng nhất là hoạt đông nghiên cứu khoa học, và nghiên cứu phát triển công nghệ gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai. Trên thế giới, khái niệm khoa học đã có từ rất lâu và đến nay khái niệm này đã được chuẩn hóa.
Theo cách hiểu chung nhất hiện nay, khái niệm khoa học được định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”. So với khái niệm khoa học thì khái niệm kỹ thuật ra đời muộn hơn, nó đặc trưng cho một thời kỳ phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thì khái niệm này càng trở nên phổ cập và trở thành một khái niệm phổ biến. Trước đây một số nhà nghiên cứu thuộc Liên Xô cũ đã chia hệ thống khoa học thành ba loại khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật. Với cách chia như vậy các tác giả viết “khoa học kỹ thuật: tên gộp chung những khoa học cụ thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản (cơ, lý, hoá, sinh toán, kể cả xã hội) vào trong hoạt động thực tiễn chủ yếu là hoạt động sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp.
Có thể kể ra những khoa học kỹ thuật như vô tuyến điện tử học (ứng dụng cơ học lượng tử), khoa học vũ trụ (ứng dụng thiên văn học), điều khiển học (ứng dụng toán học, logic)”. (Website Tạp chí hoạt động khoa học 12/2006) Vào giữa thập kỷ 80, ở nước ta có một cuộc tranh cãi về khái niệm khoa học kỹ thuật hay khoa học kỹ thuật – công nghệ, lúc đó khái niệm công nghệ được đồng nhất với khái niệm kỹ thuật và kỹ thuật có thể hiểu như là 6 “việc sử dụng tổng hợp các công cụ lao động, các nguyên liệu sản xuất, các phương pháp do con người sáng tạo ra, đưa vào quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội”. Cùng với sự phát triển thì khái niệm kỹ thuật dần được chuyển đổi thành khái niệm công nghệ, song khái niệm công nghệ hiện nay đã có bước phát triển vượt bậc nó bao hàm trong đó cả khái niệm kỹ thuật đồng thời được mở rộng và cụ thể hoá thêm rất nhiều thành tố khác. Về định nghĩa về công nghệ theo Uỷ ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương “Công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý”. Theo Luật khoa học công nghệ năm 2000 thì công nghệ “là tập hợp các phương pháp các quy trình, kỹ năng bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Theo Phó GS-TS Vũ Anh Tuấn, công nghệ được hiểu theo nghĩa là “tập hợp các công cụ phương tiện để biến đổi các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực sản xuất trung gian thành hàng hoá tiêu dùng hoặc nguồn lực sản xuất trung gian”(36, tr12). Công nghệ bao gồm phần cứng, hữu hình và phần mềm, vô hình, phát triển công nghệ gồm cả phần cứng (máy móc, thiết bị.), phần mềm (phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích.) Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ gồm bốn thành phần: Thứ nhất: Thành phần kỹ thuật (technoware) bao gồm các thiết bị, máy móc kỹ thuật, nhà xưởng.
mang hình thái vật thể “hữu hình”. Thứ hai: Là thành phần thông tin phi vật thể “vô hình” (inforeware) gồm các bí quyết, phát minh, sáng chế, quy trình công nghệ, phương pháp công nghệ, cách thức xử lý giải pháp công nghệ. Thứ ba: Thành phần nhân lực (humanware) gồm kiến thức, kỹ năng, trình độ tay nghề, kinh nghiệm, về các lĩnh vực của người lao động, khả năng thích ứng với các điều kiện sản xuất của người lao động. 7 Thứ tƣ: Thành phần tổ chức (orgaware) gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành, kiểm tra, điều phối bố trí các nguồn lực.
Song hành với khái niệm công nghệ thì khái niệm khoa học công nghệ, hay khoa học và công nghệ cũng hình thành. Đồng thời trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất thì yếu tố khoa học và công nghệ đã dần gắn kết với nhau đôi khi khó phân biệt được ranh giới giữa yếu tố khoa học và công nghệ; tuy nhiên hoạt động khoa học và công nghệ vẫn khác nhau về bản chất. Nói một cách ngắn gọn nhất khoa học là tìm ra tri thức mới, còn công nghệ là ứng dụng tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Trong thời đại hiện nay có sự giao thoa, tác động ngày càng lớn gữa hai quá trình này, những thành tựu về khoa học là tiền đề cho công nghệ phát triển, và việc áp dụng cải tiến các yếu tố kỹ thuật trong công nghệ lại đặt ra cho khoa học những câu hỏi, những việc cần phải giải quyết do vậy khái niệm hàng hoá khoa học công nghệ, hàng hoá khoa học và công nghệ trở nên phổ dụng thay vì chỉ nói hàng hoá công nghệ.
Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, hàng hoá khoa học công nghệ chính là một phần hoặc toàn bộ công nghệ hoàn chỉnh, những kết qủa nghiên cứu phát triển (R&D), các phương pháp, các dịch vụ khoa học công nghệ có giá trị thương mại. Tuy nhiên, để làm rõ hơn trong việc nhận thức các dạng hàng hoá khoa học một cách cụ thể theo các nghiên cứu hiện nay hàng hoá khoa học công nghệ gồm các loại cơ bản sau đây: * Các dạng hàng hoá khoa học công nghệ: 1- Li-Xăng/Pa-Tăng sáng chế giải pháp hữu ích. Trong đó, Li-Xăng là văn bằng sử dụng cho mục đích thương mại, các phương pháp, mô hình, phần mềm về công nghệ, thiết kế. Pa-Tăng là văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với phát minh, sáng chế.
Các hợp đồng Li-xăng về sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, các thực thể được quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ khác. 2- Kết quả nghiên cứu phát triển R&D của các cơ quan, tổ chức khoa học công nghệ dưới dạng chưa hoàn chỉnh cả về kỹ thuật cũng như thương 8 mại, có khả năng đăng ký Pa-tăng và nó chỉ có giá trị thương mại ở dạng tiềm năng. 3- Bí mật nghề nghiệp: các quy trình công nghệ, các phần mềm điều khiển, ứng dụng, các công thức, bản vẽ thiết kế, mô tả… đây là những thứ có giá trị thương mại trên thị trường nhưng không đuợc công bố, hoặc được công bố nhưng chỉ một phần không đầy đủ. 4- Dịch vụ kỹ thuật: Các dịch vụ tư vấn, thiết kế kỹ thuật, dịch vụ tư vấn lựa chọn thiết bị, công nghệ, dịch vụ đo lường kiểm định, dịch vụ lắp đặt vận hành, dịch vụ đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng… 5- Dịch vụ R&D thương mại, làm R&D theo đơn đặt hàng việc nghiên cứu phát triển, viết tắt (R&D) là công việc thường xuyên của các tổ chức, các công ty…đây là một loại chi phí mà tất cả các công ty đều phải dành cho để phát triển hoàn thiện các sản phẩm, hoặc tung ra các sản phẩm mới để tạo lợi thế cạnh tranh với các đối thủ.
Tuy nhiên trên thực tế chỉ có những công ty, tổ chức có quy mô lớn mới có thể tự thực hiện được tất cả các công đoạn của hoạt động R&D. Bên cạnh đó có rất nhiều công ty vừa và nhỏ, Chính phủ, và cả chính những công ty lớn cũng vẫn sử dụng việc đặt hàng R&D tổng thể hay từng phần đối với các tổ chức chuyên nghiên cứu, như các viện nghiên cứu, trường đại học… đối với việc phát triển của mình 6- Thiết bị chứa đựng công nghệ, gồm toàn bộ hệ thống thiết bị hoặc một phần để chế tạo ra một loại, hoặc nhiều sản phẩm có những dặc điểm chung giống nhau, hoặc thực hiện một vài công việc nào đó trong toàn bộ một chu trình sản xuất. 7- Toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp bao gồm cả công nghệ quản lý, những phương thức điều hành quản lý trong nội bộ doanh nghiệp hoặc trong từng bộ phận doanh nghiệp … *Về đặc điểm hàng hóa khoa học công nghệ Thứ nhất: Hàng hóa khoa học công nghệ có thể là hữu hình hoặc vô hình; hàng hóa khoa học công nghệ có thể tồn tại dưới dạng tri thức thuần 9 túy, tồn tại dưới dạng tri thức được “vật hóa” dưói các dạng cụ thể công thức, bản vẽ, quy trình công nghệ…, tồn tại dưới dạng hữu hình như máy móc, thiết bị công nghệ… Thứ hai: Cơ chế định giá hàng hóa KHCN có đặc thù khác rất xa so với hàng hàng hóa thông thường. Như đã nói ở trên, nó không chỉ biểu hiện ở dạng hữu hình như một dây chuyền máy móc thiết bị công nghệ, mà còn được thể hiện ở rất nhiều các trạng thái vô hình khác như bí quyết, công thức, phần mềm….
Do vậy, việc xác lập hoặc tính toán giá trị của loại hàng hóa này hết sức phức tạp, vì rất khó đo lường được mức độ chi phí một cách trực tiếp, cụ thể để có thể làm căn cứ cho việc xác định giá thành sản phẩm Thứ ba: Hàng hóa công nghệ có tính chất hàng hóa công cộng, tức là nó có tính không thể kình địch trong tiêu dùng, tính không thể ngăn cản, và tính không thể dứt bỏ.