Chương 1: Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết. Chương 3: Thực trạng thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết Hà Nội. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển của thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết Hà Nội đến năm 2020.
7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGOÀI NƢỚC 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về thị trƣờng chứng khoán Thị trường chứng khoán được coi là một thể chế bậc cao và không thể thiếu của kinh tế thị trường hiện đại, một kênh huy động vốn chủ đạo để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, TTCK là thể chế kinh tế dễ bị tổn thương và chịu sự tác động rất lớn bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội.
Do đó, sự phát triển thiếu bền vững của TTCK - đặc biệt là thị trường OTC, là nhân tố chủ yếu, khơi mào và gây nên những bất ổn của kinh tế quốc gia, khu vực và toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á (1997) và khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008) là một minh chứng rất rõ ràng cho sự cần thiết phải phát triển bền vững TTCK. Vì vậy, nghiên cứu lý thuyết về TTCK nói riêng, thị trường vốn (TTV) nói chung luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế nước ngoài. Quan điểm của C.Ănghen về sự ra đ i của thị trư ng chứng khoán C.Mác là người đầu tiên nghiên cứu sự ra đời của kỳ phiếu (mầm mống phôi thai của chứng khoán): “Khi cho vay bằng hàng hóa, giá trị của hàng hóa đó được hai bên đương sự quy ra thành tiền và việc chuyển dịch những hàng hóa đó có nghĩa là việc bán rồi, thì trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồm cả một khoản thù lao về việc sử dụng tư bản và về sự rủi ro có thể xảy ra trước khi đến kỳ hạn trả.
Thông thường đối với loại tín dụng này, người ta phải làm giấy cam đoan là đến kỳ hạn nhất định sẽ trả lại tiền. Nhưng giấy cam đoan hay giấy hứa hẹn ấy, có thể dịch chuyển từ tay người này sang tay người khác, trở thành phương tiện để những người cho vay, khi nào cần sử dụng đến số tư bản của họ dưới hình thái tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa, thì phần nhiều có thể đi vay hay là mua hàng với điều kiện có lợi hơn trước khi đến kỳ đòi được tiền các kỳ phiếu đó, bởi vì những kỳ phiếu này đã được tăng thêm phần tín nhiệm do có thêm chữ ký thứ hai trên kỳ phiếu” [400, tr. Như vậy kỳ phiếu trở thành "tiền thương nghiệp". Nó có thể dùng để mua hàng hóa, để thanh toán nợ, để vay tiền.
Với tư cách là tiền thương nghiệp, kỳ phiếu 8 là một hiện tượng kinh tế mới, nâng trình độ xã hội hóa quá trình trao đổi lên nấc thang mới. Công ty cổ phần phát triển trên cơ sở nền sản xuất đã được xã hội hóa ở trình độ cao, do đó kết hợp nhiều quan hệ sở hữu khác nhau, là hình thức kinh tế trung gian quá độ tư hữu sang chế độ công hữu.Mác cho rằng: “Trong công ty cổ phần quyền sở hữu tồn tại dưới hình thái cổ phiếu nên sự vận động và chuyển dịch của nó chỉ giản đơn trở thành kết quả của trò chơi đỏ đen ở Sở giao dịch” [40, tr 431]. Những công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước khác Bài báo "Liệu thị trường chứng khoán Mỹ được định giá thấp hay cao hơn so với giá trị thật của nó" của tác giả Mike Patton [99, tr.156] đăng trên trang điện tử của Tạp chỉ Forbes ngày 30/9/2015 đã thử tìm câu trả lời cho việc định giá TTCK nói chung và TTCK Mỹ nói riêng. Đi từ việc phân tích tỉ lệ phần trăm trong TTCK, tác giả đã so sánh sự vốn hóa của TTCK với tổng sản phẩm quốc nội, cùng với việc xem xét tỷ giá Down Jones từ năm 1970 đến 2005 để chỉ ra rằng, tỷ lệ phần trăm không phản ánh đúng tình trạng thị trường mà chỉ là một hướng chỉ dẫn để đánh giá giá trị hợp lý của thị trường.
Quay trở lại với con số 110,2% của thị trường Mỹ, tác giả cho rằng con số này vẫn hơi cao so với giá trị thật của thị trường và ông đưa ra dự đoán dè dặt về sự phát triển phía sau của nó. Chứng kiến giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2009-2013, Tejvan Pettinger (2015) trong “Thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào?” [106, tr 153] đã nhìn nhận và đưa ra những đánh giá khách quan về những tác động của TTCK đối với nền kinh tế. Những tác động này được biểu hiện ở 5 yếu tố: Sự giàu có; lương hưu; niềm tin của các nhà đầu tư; sự đầu tư; cuối cùng là thị trường trái phiếu. Ở từng nội dung, tác giả đưa ra những bình luận và lý giải ngắn gọn những biến động của TTCK ảnh hưởng tới các mặt của nền kinh tế như thế nào, từ đó đánh giá vai trò của TTCK đến nền kinh tế.
Bằng cái nhìn tin tưởng vào TTCK Nhật Bản - Sự phục hồi của NIKKEI và Yên hay những chính sách hứa hẹn của Chính phủ, Roger Aitken (2015) trong “Nguyên nhân để đầu tư vào thị trường chứng khoán Nhật Bản ngay bây giờ” [Error! Reference source not found.4, tr 157] đã đưa ra 5 lý do đầu tư vào TTCK 9 Nhật Bản. Đó là - thứ nhất, định giá hấp dẫn, thị trường Nhật Bản vốn được định giá cao so với các sàn khác, cùng với sự phát triển ổn định của 2 chỉ số P/E và P/B; thứ hai, sự phát triển của các doanh nghiệp, một số mã doanh nghiệp mới sẽ bổ sung vào nhằm tăng điểm cho thị trường; thứ ba, giá trị cổ đông: các doanh nghiệp có xu hướng tăng chi trả cổ tức cho cổ đông nhằm thu hút hoạt động mua; thứ tư, lợi nhuận doanh nghiêp và thu nhập trên vốn chủ sở hữu, số liệu chỉ ra rằng, trong quý 2 năm 2015, lợi nhuận doanh nghiệp tăng lên kỷ lục, bên cạnh đó thu nhập trên vốn chủ sở hữu cũng được cải thiện đáng kể; thứ năm, chương trình Abenomics, đây là chương trình nhằm cải thiện nền kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe, tập trung vào 3 hướng: Cách tiếp cận của kích thích tài chính, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tóm lại, bằng việc phân tích khá sâu TTCK và nền kinh tế, tác giả cho rằng đây là thời điểm để đầu tư vào TTCK Nhật Bản. Dựa trên các dữ liệu về TTCK trên sàn Douala cùng các dẫn chứng kinh tế của Cameroon từ năm 2006-2010, BoubakariAke, Rachelle WouonoOgnaligui trong "Thị trường chứng khoán tài chính và sự phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển: Trên trường hợp của Thị trường chứng khoán Douala ở Cameroon" [91, tr156] - Tạp chí International Jounal of Business and Management đã cố gắng tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa TTCK và sự phát triển kinh tế của quốc gia này.
Phát hiện đã chỉ ra rằng các giao dịch của sàn Douala không có ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Cameroon như mục tiêu Chính phủ đề ra dù vẫn có một số tác động tích cực. Bên cạnh đó, nghiên cứu lại chỉ ra tỷ lệ vốn trên TTCK có tác động đến GDP và đưa ra lời khuyên đối với Chính phủ Cameroon là nên thúc đẩy các doanh nghiệp IPO ra thị trường chứ không nên vay ngân hàng khi cần vốn.Rose, "Tiền tệ và thị trường vốn: Hệ thống tài chính trong nền kinh tế toàn cầu" [101, tr173] đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển TTCK trong nền kinh tế quốc dân, chú ý nhiều đến khía cạnh tổ chức, quản lý và giám sát thị trường. Levine and Zervo, "Mối quan hệ giữa việc phát triển thị trường chứng khoán với tăng trưởng kinh tế tại các nước mới nổi" [97, tr.134] đã trình bày TTCK hiệu quả có mối quan hệ tích cực tới tăng trưởng kinh tế, tích lũy vốn và cải thiện năng suất. 10 Yongseok Shin, "Thị trường tài chính: Một động lực cho tăng trưởng kinh tế" [Error! Reference source not found.65] đã khẳng định lĩnh vực tài chính thúc đẩy đổi mới công nghệ và tăng trưởng kinh tế thông qua thúc đẩy tiết kiệm, đánh giá dự án, quản trị rủi ro, giám sát quản lý và thúc đẩy giao dịch.Filer, Jan Hanousek và Nauro F.Campotrong trong "Liệu thị trường chứng khoán có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" đã nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng mô hình kinh tế lượng [102, tr.78], cho rằng: 1) có mối quan hệ chặt chẽ giữa TTCK và tăng trưởng kinh tế trong tương lai tại các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình thấp, nhưng không đúng với các nước có thu nhập cao hơn nơi có các định chế tài chính thay thế đã phát triển hơn; 2) không có tác động giữa thị trường tài chính (TTTC) với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển nơi còn thiếu khuôn khổ pháp lý lành mạnh, tình trạng tham nhũng quá nhiều và sự can thiệp quá lớn của Chính phủ.
Marc Faber, "Cơ hội và tiềm năng đầu tư vào chứng khoán Việt Nam vẫn là số 1" [98, tr211]. Tại Hội thảo cho rằng: TTCK Việt Nam vẫn là thị trường có triển vọng nhất trong 10 năm tới, với điều kiện Chính phủ nên giảm bớt can thiệp bằng các biện pháp hành chính vào nền kinh tế. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự phát triển của TTCK và tăng trưởng kinh tế, với những ví dụ cụ thể của các quốc gia đang phát triển như Thái Lan, Malaysia, Singapore…, tác giả Hamid Mohtadi và Sumit Agarwal trong tác phẩm "Sự phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triển" và tác giả Salvatore Capasso với công trình "Sự phát triển TTCK và tăng trưởng kinh tế" [105, tr.53] đã kết luận rằng, giữa sự phát triển của TTCK và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại.