Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 62.01) với đề tài "Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Bảo Trung thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Xuân Lan. Công trình nghiên cứu sự tương tác giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nông sản dưới góc độ thể chế và quản trị chiến lược.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu thụ sản phẩm là vấn đề quan trọng đối với đời sống của hộ nông dân và chính sách kinh tế của Nhà nước. Tại Việt Nam, các hình thức giao dịch truyền thống dựa trên nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, lẻ, phân tán và lạc hậu vẫn tồn tại phổ biến. Các hình thức giao dịch nông sản hiện đại đã bước đầu hình thành nhưng còn sơ khai, thiếu một khung thể chế hoàn thiện. Tác giả chỉ ra 4 nhược điểm căn bản trong thực tiễn giao dịch nông sản ở Việt Nam:
- Hình thức mua bán trao tay bằng tiền mặt (giao dịch giao ngay - spot transaction) giữa nông dân và người mua gom (thương lái) chiếm ưu thế lớn, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Giao dịch chủ yếu vận hành dựa trên tập quán và thông lệ xã hội mà thiếu vắng cơ sở pháp lý vững chắc. Theo các nghiên cứu của McMillan và Woodruff (2000) cùng Katz (2000), sự thiếu hụt quyền pháp lý vững chắc hạn chế tính chất, quy mô và phạm vi của các giao dịch, khiến thị trường nông sản chậm phát triển.
- Hình thức giao dịch qua chợ đầu mối và chợ trung tâm nông sản hoạt động kém hiệu quả. Dù Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều chợ trung tâm theo định hướng "đưa thị trường đến cho nông dân", nhiều chợ rơi vào tình trạng ngừng hoạt động chỉ sau vài tháng vận hành do thiếu thể chế quản lý phù hợp với mô hình giao dịch tập trung.
- Hình thức sản xuất theo hợp đồng (contract farming) nhằm gắn kết nông dân với người mua bằng hợp đồng quan hệ (relational contracting) theo tinh thần Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ ("liên kết 4 nhà") bộc lộ nhiều bất cập sau 7 năm triển khai. Thực tế ghi nhận tình trạng vi phạm hợp đồng diễn ra tràn lan: doanh nghiệp không thu hồi được vốn đầu tư ứng trước hoặc không thu mua được nông sản; nông dân phá vỡ cam kết bán hàng khi giá thị trường biến động.
- Các hình thức giao dịch giao sau (triển hạn, kỳ hạn, quyền chọn) còn ở mức độ sơ khai. Giao dịch triển hạn (forward) dựa trên sự tin cậy dần bị phá vỡ khi quy mô mở rộng; giao dịch kỳ hạn (futures) thông qua các Sở giao dịch hàng hóa nước ngoài (LIFFE, NYBOT) khiến nhiều doanh nghiệp trong nước thua lỗ nặng và phải ngừng hoạt động; thị trường trong nước chưa xây dựng được Sở giao dịch hàng hóa hoàn chỉnh; giao dịch quyền chọn (option) chưa được áp dụng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là: các công trình trước đây chỉ phân tích từng hình thức giao dịch thương mại riêng lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống thể chế giao dịch tích hợp cả ba khía cạnh: cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất theo cách tiếp cận quản trị doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và đề xuất giải pháp phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho các chủ thể tham gia thị trường nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời góp phần xóa đói, giảm nghèo cho các hộ nông dân.
- Mục tiêu cụ thể:
- Luận giải cơ sở khoa học và kinh nghiệm của một số nước về thể chế giao dịch nông sản.
- Nhận dạng, phân tích và đánh giá thực trạng các hình thức giao dịch và thể chế giao dịch nông sản đang vận hành ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức giao dịch và thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 7 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Giao dịch nông sản là gì? Thể chế giao dịch nông sản là gì? Thể chế giao dịch nông sản có bản chất và nội dung gì?
- Bài học kinh nghiệm nào của thế giới cần rút ra để phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam?
- Thể chế quản lý vĩ mô của Nhà nước trong thời gian qua có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình phát triển các hình thức giao dịch nông sản ở Việt Nam?
- Thực tiễn hình thành và phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam trong thời gian qua có những vấn đề gì nảy sinh cần phải giải quyết?
- Thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam cần phải hoàn thiện như thế nào?
- Những giải pháp nào cần phải đặt ra để phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam?
- Nhà nước và doanh nghiệp cần phải làm gì để phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức và thể chế giao dịch nông sản thông qua các mối quan hệ giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh nông sản. Thể chế được khảo sát trên ba khía cạnh: cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất. Luận án xác định rõ giới hạn là chưa có điều kiện nghiên cứu khía cạnh hiệu quả kinh tế thông qua chuỗi giá trị và chi phí marketing nông sản.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các trường hợp điển hình tại 3 vùng sản xuất nông sản trọng điểm ở Nam Bộ: Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.
- Phạm vi thời gian: Quá trình hình thành và phát triển các hình thức giao dịch nông sản (cả tự phát lẫn tự giác), tập trung vào giai đoạn thực tiễn từ năm 2002 đến năm 2007 và bối cảnh nghiên cứu năm 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan trực tiếp đến giao dịch nông sản tại Việt Nam:
- Dương Ngọc Thí và Trần Minh Vĩnh (2006): Đề tài "Nghiên cứu đánh giá các hình thức giao dịch thương mại nông sản ở Việt Nam" (Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn), phân tích 4 hình thức giao dịch: mua bán tự do qua người mua gom; mua bán theo hợp đồng giữa doanh nghiệp và hộ nông dân; mua bán qua hợp đồng giữa doanh nghiệp và hợp tác xã/tổ hợp tác; mua bán tại chợ đầu mối.
- Vũ Trọng Khải và Nguyễn Thắng (2006): Đề tài cấp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn "Đa dạng hóa chủ thể sở hữu doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước", nhận diện các mô hình khoán trong nông trường quốc doanh dưới góc độ thương mại thực chất là hình thức sản xuất theo hợp đồng.
- Nguyễn Văn Nam và Selwyn Heibron (2004): Đề tài "Nghiên cứu điều kiện hình thành sàn giao dịch nông sản tại Việt Nam" (Dự án do AusAID tài trợ), khảo sát hệ thống phân phối của 8 mặt hàng (gạo, cà phê, cao su, chè, điều, rau quả, thịt); giới thiệu thị trường triển hạn, kỳ hạn, quyền chọn; đề xuất mô hình thí điểm giao dịch cà phê và chợ buôn bán rau quả.
- Vũ Thị Minh Nguyệt (2004): Đề tài "Định hướng và các giải pháp phát triển thị trường hàng hoá tập trung tại Tp.Hồ Chí Minh" (Viện Kinh tế TP.HCM), nghiên cứu bản chất thị trường giao sau, cơ chế vận hành sàn giao dịch và đánh giá các mô hình thí điểm tại TP.HCM.
- Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng và Phạm Bích Hợp (2004): Đề tài cấp Nhà nước mã số KC.07-13 "Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại", phân tích lợi ích của các chủ thể khi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - tiêu thụ qua hợp đồng.
Các nền tảng lý thuyết quốc tế
Luận án kế thừa các lý thuyết kinh tế học thể chế và quản trị chuỗi cung ứng nông nghiệp:
- Kinh tế học thể chế mới (NIE): Khái niệm thể chế là "luật chơi trong xã hội" nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch và bất định (North Douglass C., 1994; Thorstein Veblen, 1914; Báo cáo World Bank, 2002).
- Lý thuyết giao dịch: Định nghĩa giao dịch là sự trao đổi các giá trị giữa các bên (Philip Kotler; Hoàng Đức Thân, 2006).
- Lý thuyết sản xuất theo hợp đồng: Định nghĩa của Eaton và Shepherd (2001) về hợp đồng nông nghiệp và khung phân loại 5 mô hình cấu trúc; nguyên lý phân bổ 3 yếu tố cốt lõi: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định của Sykuta và Parcell (2003); xu hướng dịch chuyển từ giao ngay sang hợp đồng (Minot, 1986; McDonald, 2004; Harvey, Klein và Sykuta, 2005; Quinn, Majur và Anh, 2006).
- Lý thuyết chợ đầu mối: Khái niệm và cơ chế hình thành giá (price discovery) của Abbott (1991) và các nghiên cứu của FAO (1991).
- Giao dịch phái sinh nông sản: Phân loại hợp đồng triển hạn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và công cụ phòng hộ rủi ro (hedging) của Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Đào Lê Minh (2002), Nguyễn Văn Nam (2005).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề giao dịch nông sản dưới góc độ kinh tế vĩ mô, chính sách thương mại hoặc phân tích kỹ thuật vận hành sàn giao dịch một cách độc lập. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng khung lý thuyết toàn diện về thể chế giao dịch nông sản dưới góc độ quản trị kinh doanh, phân loại các thể chế theo sự phối hợp dọc giữa người mua và người bán, đồng thời gắn kết đồng bộ 3 thành phần: cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và điều kiện vật chất kỹ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xác lập khung phân tích thể chế giao dịch nông sản dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của sự phối hợp dọc giữa người sản xuất và người mua:
- Giao dịch nông sản: Quá trình thương lượng giữa các chủ thể kinh doanh để chuyển giao quyền sở hữu đối với nông sản trong điều kiện môi trường nhất định.
- Thể chế giao dịch nông sản: Khung pháp lý hoặc tập quán, thông lệ quy định về cấu trúc tổ chức ("người chơi") và cơ chế vận hành ("luật chơi, cách chơi") của các hoạt động giao dịch nông sản giữa hai hay nhiều chủ thể, phù hợp với các điều kiện vật chất cụ thể ("sân chơi").
- Khung phân loại thể chế gồm 3 nhóm chính:
- Thể chế giao dịch giao ngay (Spot transaction institution): Phân thành giao ngay phân tán và giao ngay tập trung (chợ đầu mối, chợ trung tâm).
- Thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng (Contract farming institution): Vận hành theo 5 mô hình (mô hình tập trung, mô hình trang trại hạt nhân, mô hình đa chủ thể, mô hình phi chính thức, mô hình trung gian) gắn với cơ chế phân chia lợi ích, rủi ro và quyền quyết định.
- Thể chế giao dịch giao sau (Forward, futures, option transaction institution): Bao gồm giao dịch triển hạn (forward), giao dịch kỳ hạn (futures) và giao dịch quyền chọn (option).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính hoàn toàn, không xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng và không kiểm định giả thuyết bằng các chỉ số thống kê suy diễn:
- Nghiên cứu định tính sơ bộ: Sử dụng phỏng vấn không cấu trúc với các đối tượng khảo sát nhằm nhận dạng, phân loại các hình thức giao dịch đang vận hành trên thực tế.
- Nghiên cứu định tính chính thức: Kết hợp nghiên cứu thực địa (field research) và nghiên cứu so sánh lịch sử (historical comparative research) thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống (case study method). Tác giả áp dụng phương pháp quy nạp, tiếp cận hệ thống và mô hình hóa để khái quát bản chất thể chế.
Quy trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu
Quy trình nghiên cứu gồm 5 bước logic:
- Bước 1: Xác định danh mục đối tượng khảo sát bằng phương pháp lấy mẫu phi xác suất phân tầng và thuận tiện tại 3 vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
- Bước 2: Phỏng vấn không cấu trúc sơ bộ để nhận diện các hình thức giao dịch thực tế của từng nhóm đối tượng.
- Bước 3: Thu thập dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu bán cấu trúc/không cấu trúc đối với lãnh đạo doanh nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã (HTX), chủ trang trại và cán bộ quản lý ngân hàng trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2007. Quan sát trực tiếp các giao dịch tại vườn, các chợ đầu mối nông sản và quan sát sàn giao dịch quốc tế LIFFE, NYBOT.
- Bước 4: Phân tích, tổng hợp dữ liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, hệ thống hóa và quy nạp lý thuyết.
- Bước 5: Kiểm chứng, hoàn thiện các tình huống nghiên cứu thông qua phương pháp thảo luận nhóm tập trung tại các lớp đào tạo Giám đốc doanh nghiệp (khóa 15, 16, 17, 18, 19), lớp bồi dưỡng Chủ nhiệm HTX và Chủ trang trại tại Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn II, cùng hội thảo khoa học do Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm lý thuyết và phân tích các loại hình thể chế giao dịch nông sản:
- Bản chất thể chế giao dịch nông sản: Luận án định vị thể chế bao gồm cấu trúc tổ chức (xác định vị trí, vai trò của các chủ thể), cơ chế vận hành (quy tắc, luật lệ điều chỉnh hành vi, cách thức xác định giá, giao nhận, thanh toán) và điều kiện vật chất (hạ tầng giao thông, kho bãi, cơ sở chế biến, hạ tầng thông tin).
- Thể chế giao dịch giao ngay:
- Cấu trúc chủ thể: Người sản xuất giao dịch trực tiếp với người tiêu thụ, người bán lẻ, người bán buôn hoặc người mua gom (thương lái).
- Cấu trúc hạ tầng: Giao dịch trực tiếp tại vườn/trang trại; giao dịch tại chợ làng/chợ bán lẻ; giao dịch tại chợ đầu mối/chợ trung tâm nông sản; giao dịch tại hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ hiện đại.
- Phân loại: Gồm giao dịch phân tán (thương lượng trực tiếp giữa hai bên, không qua trung gian) và giao dịch tập trung (nhiều người mua và người bán hội tụ tại một địa điểm, hình thành cơ chế phát hiện giá duy nhất qua thỏa thuận hoặc đấu giá).
- Thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng: Phân tích 5 mô hình cấu trúc tổ chức của Eaton và Shepherd (2001):
- Mô hình tập trung (Centralized model): Doanh nghiệp chế biến trực tiếp ký hợp đồng với trang trại/hộ nông dân, ứng trước vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và bao tiêu toàn bộ sản phẩm.
- Mô hình trang trại hạt nhân (Nucleus estate model): Doanh nghiệp sở hữu đất đai, nhà máy chế biến, chuồng trại; giao khoán đất/vườn cây cho hộ nông dân theo hình thức khoán liên doanh (tương ứng với Nghị định 01/CP và Nghị định 135/2005/NĐ-CP tại Việt Nam).
- Mô hình đa chủ thể (Multipartite model): Mô hình "liên kết 4 nhà" gồm Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân/HTX, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân kết nối.
- Mô hình phi chính thức (Informal model): Thỏa thuận miệng giữa nông dân và người mua gom theo quan hệ cộng đồng, tập quán địa phương.
- Mô hình trung gian (Intermediary model): Doanh nghiệp thu mua nông sản thông qua các tổ chức trung gian như HTX, tổ hợp tác hoặc đại diện nông dân nhằm giảm chi phí giao dịch.
- Thể chế giao dịch giao sau:
- Chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt: forward transaction là "giao dịch triển hạn", futures transaction là "giao dịch kỳ hạn", option transaction là "giao dịch quyền chọn".
- Giao dịch triển hạn: Thỏa thuận mua bán thực hiện trên thị trường phi tập trung (OTC) với giá triển hạn xác định ngày hôm nay cho việc giao hàng tương lai; phân tích 3 cơ chế định giá: giá cố định, giá kỳ hạn và chốt giá sau (Price-to-be-fixed - PTBF).
- Giao dịch kỳ hạn: Hợp đồng chuẩn hóa thực hiện qua Sở giao dịch hàng hóa có cơ chế thanh toán bù trừ, có chức năng bảo hộ rủi ro (hedging) chuyển dịch rủi ro từ người bảo hộ sang người đầu cơ (speculator).
- Đặc điểm sản xuất nông nghiệp chi phối thể chế: Tính phụ thuộc vào tự nhiên, chu kỳ sinh học kéo dài, sản phẩm không đồng nhất về phẩm cấp/kích cỡ, tính thời vụ cao và tính phân tán địa lý của các hộ sản xuất.
- Kinh nghiệm quốc tế: Kinh nghiệm phát triển Sở giao dịch kỳ hạn tại Hoa Kỳ (CBOT), Thái Lan (Sở giao dịch AFET, Ủy ban AFTC, Ngân hàng BAAC), Trung Quốc (Sở giao dịch Đại Liên - DCE, Trịnh Châu - ZCE); bài học về xây dựng khung pháp lý, hiệp hội ngành hàng và vai trò hỗ trợ của Nhà nước.
| Tiêu thức so sánh |
Giao dịch triển hạn (Forward) |
Giao dịch kỳ hạn (Futures) |
| Loại hợp đồng |
Thỏa thuận riêng biệt giữa hai bên, không chuẩn hóa |
Chuẩn hóa toàn bộ về số lượng, chất lượng, thời hạn |
| Thị trường giao dịch |
Thị trường phi tập trung (OTC) |
Sở giao dịch hàng hóa tập trung |
| Tính thanh khoản |
Thấp, khó chuyển nhượng cho bên thứ ba |
Rất cao, dễ dàng đóng vị thế trước khi đáo hạn |
| Rủi ro thanh toán |
Phụ thuộc vào mức độ uy tín của đối tác ký kết |
Được bảo đảm tuyệt đối qua Trung tâm thanh toán bù trừ |
| Phương thức giao dịch |
Thương lượng trực tiếp hoặc qua môi giới tự do |
Thông qua thành viên môi giới của Sở giao dịch |
Bảng tổng hợp: So sánh sự khác nhau giữa hợp đồng triển hạn và hợp đồng kỳ hạn (trích từ nội dung Chương 1).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM
Chương 2 trình bày các nghiên cứu tình huống cụ thể tại 3 vùng trọng điểm để đánh giá thực trạng thể chế:
Thực trạng thể chế giao dịch giao ngay
- Kênh giao dịch phân tán: Chiếm tỷ trọng áp đảo tại ĐBSCL đối với lúa gạo và tại Tây Nguyên đối với cà phê. Số liệu khảo sát tại Xí nghiệp Tân Thạnh (giai đoạn 2004-2006) cho thấy doanh nghiệp chủ yếu thu mua lúa gạo qua hệ thống thương lái mua gom và bạn hàng vận chuyển đường thủy thay vì mua trực tiếp từ nông dân. Giao dịch phân tán không có hợp đồng văn bản, thanh toán bằng tiền mặt, tiềm ẩn rủi ro ép giá và chất lượng không đồng đều.
- Kênh giao dịch tập trung: Khảo sát tình hình hoạt động của Chợ trung tâm Nông sản Hậu Thạnh Đông (Long An) giai đoạn 2002-2007. Chợ được đầu tư xây dựng hạ tầng nhưng không thu hút được thương nhân và nông dân đưa hàng vào giao dịch; hạ tầng logistics phụ trợ thiếu đồng bộ khiến chợ hoạt động không hiệu quả, phản ánh sự thất bại của thể chế quản lý chợ nông sản tập trung theo mệnh lệnh hành chính.
Thực trạng thể chế sản xuất theo hợp đồng
- Tình huống cây bông vải tại Trạm Kông Chro (Gia Lai): Số liệu giai đoạn 2002-2004 cho thấy diện tích và số hộ tham gia trồng bông biến động mạnh. Doanh nghiệp đầu tư giống, phân bón nhưng khi giá nông sản bên ngoài biến động, tình trạng nông dân bán lẻ bông ra thị trường tự do xảy ra phổ biến.
- Tình huống cao su tại Nông trường Đắc Đoa (Gia Lai): Thực hiện mô hình trang trại hạt nhân giai đoạn 2004-2006 theo cơ chế giao khoán đất và vườn cây cao su cho công nhân/hộ nông dân. Mô hình đạt hiệu quả cao nhờ kết hợp hài hòa quyền sở hữu tư liệu sản xuất của doanh nghiệp nhà nước với động lực chăm sóc vườn cây của kinh tế hộ.
- Tình huống lúa gạo tại Công ty Lương thực Tiền Giang: Số liệu thực hiện hợp đồng giai đoạn 2002-2007 phản ánh những tồn tại nghiêm trọng:
- Doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào thông qua các HTX nông nghiệp, nhưng nhiều HTX nợ đọng dây dưa không thu hồi được vốn đầu tư.
- Tỷ lệ thực hiện hợp đồng tiêu thụ lúa thực tế rất thấp so với khối lượng cam kết trong hợp đồng (nhiều vụ đạt dưới 30% kế hoạch). Khi giá thị trường cao hơn giá hợp đồng, nông dân bán lúa cho thương lái; khi giá thị trường giảm sâu hơn giá hợp đồng, doanh nghiệp chậm thu mua khiến nông dân gánh chịu thiệt hại.
| Chỉ tiêu / Vụ việc |
Đơn vị khảo sát thực tế |
Giai đoạn số liệu |
Hiện tượng và vấn đề thể chế nảy sinh |
| Giao ngay phân tán |
Xí nghiệp Tân Thạnh (ĐBSCL) |
2004 - 2006 |
Phụ thuộc hoàn toàn vào mạng lưới người mua gom; thiếu liên kết pháp lý |
| Giao ngay tập trung |
Chợ Nông sản Hậu Thạnh Đông |
2002 - 2007 |
Hoạt động kém hiệu quả, vắng bóng thương nhân do thiếu quy chế vận hành |
| Trang trại hạt nhân |
Nông trường Đắc Đoa (Gia Lai) |
2004 - 2006 |
Hợp đồng giao khoán vận hành ổn định, bảo đảm lợi ích hai bên |
| Hợp đồng lúa gạo |
Công ty Lương thực Tiền Giang |
2002 - 2007 |
Vi phạm hợp đồng phổ biến; HTX nợ vật tư; tỷ lệ bao tiêu thực tế rất thấp |
| Giao dịch chốt giá sau |
Simexco Daklak, Vinacafe BMT |
2005 - 2007 |
Tranh chấp "mức trừ lùi"; rủi ro mất vốn khi nông dân gửi kho đại lý vỡ nợ |
Bảng tổng hợp: Khái quát các tình huống nghiên cứu thực tế về thể chế giao dịch nông sản trong Chương 2.
Thực trạng thể chế giao dịch giao sau
- Hình thức sơ khai trong nước: Hiện tượng "mua bán lúa non", "mua mão vườn cây" thực chất là dạng sơ khai của hợp đồng triển hạn nhưng không có bảo lãnh pháp lý. Tại Tây Nguyên, tập quán nông dân ký gửi cà phê tại kho của các đại lý tư nhân rồi "chốt giá sau" (PTBF) bị đảo ngược quy trình (giao hàng thực tế trước, chốt giá tính tiền sau), dẫn đến hàng loạt vụ vỡ nợ dây chuyền của các chủ vựa cà phê, gây mất vốn của người nông dân.
- Giao dịch qua sàn quốc tế: Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn (như Simexco Daklak, Vinacafe Buôn Ma Thuột) áp dụng hợp đồng PTBF căn cứ theo giá của Sở giao dịch hàng hóa London (LIFFE). Các bên đàm phán "mức trừ lùi" (differential) so với giá niêm yết trên sàn. Do thiếu công cụ quản trị rủi ro chuyên nghiệp và chịu tác động của Công văn 8905/NHNN-QLNH của Ngân hàng Nhà nước hạn chế các công cụ phái sinh kỳ hạn, các doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro pháp lý và thua lỗ thương mại.
- Thí điểm sàn giao dịch trong nước: Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) thành lập nhưng hoạt động giao dịch trầm lắng, chưa đủ điều kiện pháp lý và tài chính để trở thành một Sở giao dịch kỳ hạn đúng nghĩa.
CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM
Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp phát triển thể chế giao dịch nông sản:
Quan điểm phát triển
- Phát triển đa dạng các hình thức giao dịch nông sản có hiệu quả và phù hợp với điều kiện, trình độ sản xuất thực tế của từng vùng miền.
- Đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi chủ thể tham gia thị trường nông sản, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hộ nông dân sản xuất nhỏ.
- Hỗ trợ hợp lý của Nhà nước cho các hình thức giao dịch nông sản phát triển thông qua hạ tầng kỹ thuật và chính sách kinh tế.
- Xây dựng cơ sở pháp lý đồng bộ, khoa học, có chế tài cưỡng chế nghiêm minh để các hình thức giao dịch vận hành minh bạch.
Giải pháp hoàn thiện từng loại hình thể chế
- Phát triển thể chế giao dịch giao ngay:
- Kênh phân tán: Chuẩn hóa mô hình kênh tiêu thụ phân tán; công nhận tư cách pháp lý chính thức của người mua gom (thương lái); khuyến khích người mua gom liên kết thành lập hiệp hội hoặc đăng ký kinh doanh có quản lý.
- Kênh tập trung: Tái cấu trúc bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý chợ đầu mối nông sản; chuyển đổi ban quản lý chợ hành chính sang mô hình doanh nghiệp thương mại kinh doanh chợ; hoàn thiện hạ tầng bảo quản lạnh, kho bãi, kiểm định vệ sinh an toàn thực phẩm và dịch vụ logistics tập trung.
- Phát triển thể chế sản xuất theo hợp đồng:
- Nghiên cứu sửa đổi, thay thế Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg bằng một khung pháp lý hoàn chỉnh về hợp đồng nông nghiệp; thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế nhanh chóng tại cơ sở.
- Chuẩn hóa hợp đồng quan hệ trên cơ sở phân định minh bạch 3 yếu tố: phân bổ lợi ích công bằng giữa doanh nghiệp và nông dân; thiết lập quỹ bảo hiểm rủi ro thiên tai và biến động giá thị trường; xác định rõ quyền kiểm soát quy trình kỹ thuật.
- Củng cố vai trò trung gian kinh tế của các Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, đại diện cho nông dân đứng ra đàm phán hợp đồng với doanh nghiệp để giảm chi phí giao dịch.
- Phát triển thể chế giao dịch giao sau:
- Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy Sở giao dịch hàng hóa hoàn chỉnh tại Việt Nam, bao gồm Trung tâm thanh toán bù trừ (Clearing House), hệ thống kho hàng chuẩn hóa (Warehouse system) và các công ty môi giới thành viên.
- Ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn hàng hóa nông sản; xây dựng quy chế giao dịch chốt giá sau (PTBF) minh bạch nhằm loại bỏ tình trạng ký gửi cà phê tự phát nhiều rủi ro.
- Thực hiện các chương trình đào tạo nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro (hedging) cho các nhà quản trị doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản.
Kiến nghị chính sách
- Đối với Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại hàng hóa nông sản; đầu tư hạ tầng giao thông và trung tâm logistics nông thôn; quy hoạch vùng chuyên canh hàng hóa lớn đạt tiêu chuẩn GAP, HACCP; hỗ trợ tín dụng ưu đãi theo hợp đồng liên kết sản xuất.
- Đối với các doanh nghiệp: Chủ động tái cấu trúc kênh thu mua; ký kết hợp đồng nông nghiệp thực chất trên nguyên tắc chia sẻ lợi ích và rủi ro; chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản trị rủi ro giá cả nông sản thông qua các công cụ thị trường giao sau.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án định nghĩa thể chế giao dịch nông sản dưới góc độ quản trị doanh nghiệp: thể chế là khung pháp lý hoặc tập quán, thông lệ quy định về cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của các hoạt động giao dịch nông sản giữa hai hay nhiều chủ thể tham gia, phù hợp với các điều kiện vật chất nhất định (khác với cách hiểu truyền thống chỉ xem thể chế là quản lý nhà nước).
- Phân loại hệ thống thể chế giao dịch nông sản thành 3 nhóm: thể chế giao dịch giao ngay, thể chế giao dịch sản xuất theo hợp đồng và thể chế giao dịch giao sau dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của sự phối hợp dọc giữa người mua và người bán.
- Khẳng định sản xuất theo hợp đồng là một loại hình giao dịch riêng biệt, có bản chất kinh tế là sự phân bổ rõ ràng 3 yếu tố: lợi ích, rủi ro và quyền quyết định giữa các bên tại thời điểm ký kết, phân biệt rõ với bản chất của hợp đồng giao sau.
- Hệ thống hóa cấu trúc giao dịch giao ngay thành hai hình thức vận hành: giao dịch phân tán và giao dịch tập trung, chỉ ra sự khác biệt về cơ chế phát hiện giá của từng hình thức.
- Nhận diện các tập quán giao dịch thương mại truyền thống tại Việt Nam như "mua mão", "mua lúa non", "bán hàng ký gửi chốt giá sau" thực chất là những hình thái sơ khai của giao dịch giao sau.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản nhận diện các dạng cấu trúc hợp đồng, từ đó xây dựng chiến lược mua bán phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro biến động giá và tranh chấp hợp đồng.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đánh giá đúng nguyên nhân thất bại của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, làm tiền đề sửa đổi chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản; hỗ trợ định hướng quy hoạch chợ đầu mối và thiết lập Sở giao dịch hàng hóa tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Do giới hạn về thời gian và kinh phí, luận án chưa có điều kiện phân tích định lượng hiệu quả kinh tế của từng hình thức giao dịch thông qua chuỗi giá trị (value chain) và chi phí marketing nông sản.
- Mẫu khảo sát thực tế mang tính thuận tiện và đại diện cục bộ tại 3 vùng sản xuất trọng điểm ở Nam Bộ (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long), chưa bao quát địa bàn Bắc Bộ và Trung Bộ.
- Chưa đi sâu nghiên cứu hình thức giao dịch nông sản qua thương mại điện tử trên mạng Internet.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu đo lường chi phí giao dịch (transaction costs) giữa các hình thức giao dịch nông sản bằng phương pháp định lượng.
- Phân tích chuỗi giá trị và phân phối thặng dư kinh tế giữa nông dân, thương lái, doanh nghiệp chế biến và nhà phân phối bán lẻ.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành của sàn giao dịch nông sản điện tử trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên: Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp và Quản trị chuỗi cung ứng có thể tham khảo khung lý thuyết Kinh tế học thể chế mới áp dụng vào nông nghiệp, cùng phương pháp tiếp cận nghiên cứu tình huống (case study).
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công Thương, UBND các tỉnh): Sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng để hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng tiêu thụ nông sản, quy chế quản lý chợ đầu mối và đề án phát triển thị trường giao sau.
- Lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản: Tham khảo các mô hình liên kết vùng nguyên liệu (5 mô hình của Eaton và Shepherd), cơ chế hợp đồng chốt giá sau (PTBF) và quy trình quản trị rủi ro giá trên thị trường phái sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thể chế giao dịch nông sản gồm những thành tố cấu thành nào?
Theo luận án, thể chế giao dịch nông sản bao gồm ba thành tố cấu thành đồng bộ:
- Cấu trúc tổ chức ("người chơi"): Khuôn khổ xác lập vị trí, vai trò, thẩm quyền và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia (nông dân, người mua gom, doanh nghiệp chế biến, HTX, nhà tạo lập thị trường).
- Cơ chế vận hành ("luật chơi, cách chơi"): Hệ thống quy tắc, luật lệ chính thức và phi chính thức điều chỉnh hành vi thương lượng, phương thức hình thành giá, thanh toán, giao nhận và phân bổ lợi ích - rủi ro.
- Điều kiện vật chất ("sân chơi"): Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ vận hành giao dịch như hệ thống giao thông, kho tàng, nhà máy chế biến, hạ tầng thương mại (chợ, sàn) và hạ tầng thông tin.
2. Vì sao tác giả phân biệt sản xuất theo hợp đồng với giao dịch giao sau dù cả hai đều giao hàng trong tương lai?
Luận án phân biệt rõ: Trong giao dịch giao sau, mục đích chính là quản trị rủi ro biến động giá thông qua công cụ tài chính, hàng hóa có thể được chuẩn hóa và việc giao hàng vật chất không phải mục tiêu tối thượng. Ngược lại, bản chất của sản xuất theo hợp đồng là cơ chế hội nhập dọc giữa người mua và người bán, trong đó giá cả và các điều khoản kỹ thuật được thỏa thuận nhằm phân bổ đồng thời ba yếu tố: lợi ích, rủi ro (rủi ro sản xuất và rủi ro thị trường) và quyền kiểm soát quy trình sinh học của nông sản.
3. Hợp đồng chốt giá sau (Price-to-be-fixed - PTBF) tại các doanh nghiệp cà phê Tây Nguyên hoạt động theo cơ chế nào?
Hợp đồng PTBF cho phép người mua hoặc người bán thỏa thuận số lượng và chất lượng hàng hóa trước, nhưng giá bán chính thức sẽ được "chốt" tại một thời điểm trong tương lai căn cứ vào giá niêm yết của Sở giao dịch hàng hóa quốc tế (như LIFFE tại London) cộng hoặc trừ một "mức trừ lùi" (differential) nhất định. Tuy nhiên, luận án chỉ ra tại Tây Nguyên có tình trạng nông dân giao hàng thực tế trước cho đại lý rồi chốt giá sau mà không có công cụ bảo hiểm rủi ro, biến tướng thành việc ký gửi nông sản đầy rủi ro mất trắng khi đại lý vỡ nợ.
4. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào khiến Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg gặp nhiều trở ngại trên thực tế?
Luận án chỉ ra các nguyên nhân căn bản:
- Khung pháp lý thiếu chế tài cưỡng chế thực thi hợp đồng đủ mạnh; chi phí kiện tụng ra tòa án kinh tế đối với các vi phạm nhỏ lẻ của nông dân quá tốn kém đối với doanh nghiệp.
- Chưa có cơ chế phân bổ rủi ro biến động giá thị trường một cách khoa học; khi giá thị trường tăng cao hơn giá ký kết, nông dân có xu hướng phá vỡ hợp đồng để bán cho thương lái; ngược lại khi giá xuống thấp, doanh nghiệp tìm cách trì hoãn việc thu mua.
- Tổ chức trung gian (như các HTX nông nghiệp) còn yếu kém, thiếu năng lực tài chính và pháp lý để bảo lãnh hợp đồng giữa doanh nghiệp và các hộ nông dân.
5. Mô hình trang trại hạt nhân (Nucleus Estate Model) được nhận diện tại Việt Nam qua hình thức nào?
Mô hình trang trại hạt nhân tại Việt Nam được luận án nhận diện điển hình qua hình thức giao khoán vườn cây, đất sản xuất trong các nông trường, lâm trường quốc doanh (theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 và sau đó là Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ). Trong mô hình này, doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất chính (đất đai, vườn cây lâu năm, nhà máy chế biến), đóng vai trò "hạt nhân" định hướng kỹ thuật và tiêu thụ, còn hộ nông dân nhận khoán đầu tư sức lao động và chăm sóc, tái lập mô hình kinh tế trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp quy mô lớn.
Kết luận
Luận án của tác giả Bảo Trung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể chế giao dịch nông sản theo trường phái Kinh tế học thể chế mới và quản trị chiến lược, phân loại thể chế thành ba nhóm: giao ngay, sản xuất theo hợp đồng và giao sau. Dựa trên các nghiên cứu tình huống thực nghiệm tại Nam Bộ, tác giả đã đánh giá toàn diện những bất cập của thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng vi phạm hợp đồng tiêu thụ và sự thiếu hụt khung pháp lý cho thị trường phái sinh. Công trình đã xác lập hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp đồng bộ về cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành và hạ tầng kỹ thuật nhằm hoàn thiện thể chế giao dịch nông sản, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam và bảo đảm sinh kế bền vững cho người nông dân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.