Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẺ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG BÓI CẢNH THựC HIỆN ĐÈ ÁN TỒNG THẺ PHÁT TRIỂN THỂ Lực TẦM VÓC NGƯỜI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2030 1. Tồng quan nghiên cún vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục thế chất cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non trong bối cảnh thực hiện đề án tong thể phát triển thể lực tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2021-2030 Nan Zeng (2018), “Physical Activity on Motor Skills and Cognitive Development in Early Childhood” cho rằng: Hoạt động thể chất là mối quan tâm của ngành y tế công cộng ở nhiều nước công nghiệp. Trong thập kỷ qua, trẻ em trở nên ít hoạt động thể chất một phần do sự tiến bộ về công nghệ và sự thay đổi của xã hội dẫn đến sự gia tăng đáng kể tỷ lệ béo phi và các bệnh mãn tính khác (ví dụ, tăng huyết áp, tiểu đường tuýp 2).
Tham gia hoạt động thể chất thường xuyên đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và giảm béo phì ở trẻ em và các bệnh mãn tính, từ đó góp phần ngăn ngừa các bệnh mãn tính sau này ở tuổi trưởng thành. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng hoạt động thế chất tăng lên ảnh hưởng đến chức nàng nhận thức ở trẻ em, ảnh hưởng đến chức năng điều hành (ví dụ: trí nhớ làm việc, tính linh hoạt nhận thức) [25]. Ilona Bidzan-Bluma, Malgorzata Lipowska (2018), “Physical Activity and Cognitive Functioning of Children” trong nghiên cứu của mình đã xác định: Thời thơ ấu là giai đoạn quan trọng và nhạy cảm đối với sự phát triển nhận thức. Nghiên cún chứng minh ảnh hưởng của hoạt động thể chất đến sức khoe, đặc biệt là mối tương quan tích cực giữa thê thao và chức năng nhận thức của trẻ em.
Các lĩnh vực chú ý, suy nghĩ, ngôn ngữ, học tập và trí nhớ được phân tích liên quan đến thể thao và thời thơ ấu. Kết quả cho thấy rằng tham gia vào các môn thể thao ở tuổi ấu thơ ảnh hưởng tích cực đến các chức năng nhận thức và cảm xúc. Kết quả nghiên cứu là căn cứ trong việc phát triển các chương trình đào tạo cho trẻ em, nhằm cải thiện các 7 chức năng nhận thức có thể hướng dẫn cả nhà nghiên cứu và người thực hành liên quan đến nhiều lợi ích từ hoạt động thể chất) [22]. Timmons (2007), cho rằng: Xu hướng đáng báo động về hiện tượng béo phì ở trẻ em ngay cả ở trẻ mẫu giáo đã tập trung sự chú ý vào tầm quan trọng của hoạt động thể chất ở lứa tuổi này.
Mục đích của bài viết nhằm cung cấp bằng chứng khoa học về sự liên kết giữa hoạt động thể chất và phát triển sinh học, tâm lý xã hội trong thời gian đầu thời thơ ấu. Trọng tâm đặc biệt là sự tương tác giữa hoạt động thế chất và sự phát triển kỹ năng vận động ở trẻ. Bài viết cùng thảo luận về yếu tố quyết định mạnh nhất đến hoạt động thể chất ở trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, bao gồm cả vai trò của môi trường sống của trẻ (ví dụ: Gia đình, chăm sóc trẻ em và tình trạng kinh tể xã hội) [19]. Steve Stork, Stephen w.
Sanders (2008), đi sâu xem xét tác động tích cực của hoạt động thể chất đối với sự phát triển nhận thức, xà hội và thể chất của trẻ nhỏ. Đồng thời, chỉ ra hạn chế của việc chưa coi trọng các trải nghiệm giáo dục thể chất phù họp trong chương trình giáo dục mầm non. Mặc dù hạn chế về phạm vi, nghiên cứu cho thấy trẻ nhỏ học được nhiều hơn thông qua hoạt động thế chất với sự hướng dẫn phù hợp hơn là thông qua hoạt động thể chất ngẫu nhiên. Trẻ cần các điều kiện cụ thể và có hệ thống để học các kỹ năng phát triển thề chất cơ bản cho sự phát triền của cả cuộc đời.
Đây là căn cứ để đưa giáo dục thể chất thành một nội dung chính trong chương trình giáo dục mầm non) [27]. Melody Oliver (2007) cho rằng: Định lượng hoạt động thế chất ở trẻ mẫu giáo là điều cần thiết để thiết lập tỷ lệ hoạt động thể chất với sức khỏe và hiệu quả can thiệp. Cho đến nay, phương pháp thực hành tốt nhất để đo hoạt động thể chất ở trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo chưa được đánh giá cao. Bài viết cung cấp đánh giá về các công cụ đo lường hoạt động thể chất cho trẻ mẫu giáo, tổng quan về đo lường hoạt động thê chất của trẻ mẫu giáo.
Các nghiên cứu đo lường chỉ ra rằng trẻ em mẫu giáo thể hiện mức độ hoạt động mạnh mẽ; các bé trai hoạt động nhiều hơn các bé gái và các mô hình hoạt động có xu hướng lẻ tẻ và đa hướng) [24]. David Crawford (2008) trong nghiên cứu của minh với mục đích điều tra mối tương quan giữa hoạt động thể chất và sự phát triển của trẻ mẫu giáo. Kết quả 8 cho thấy con trai hoạt động nhiều hơn con gái, trẻ em có cha mẹ năng động có xu hướng hoạt động nhiều hơn và trẻ em dành nhiều thời gian ngoài trời hoạt động nhiều hơn trẻ em dành ít thời gian ngoài trời. Những ảnh hưởng đến hành vi hoạt động thể chất của trẻ mẫu giáo là đa chiều.
Do đó, đi sâu tìm hiếu các khía cạnh ảnh hưởng này là điều vô cùng cần thiết) [20]. Các yếu tố được điều tra là tuổi, trung tâm chăm sóc trẻ em, mùa, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMĨ), tiền sử sinh non, tham gia các hoạt động có tổ chức, BMĨ của cha mẹ và trình độ học vấn của cha mẹ. Kết quả cho thấy con trai hoạt động nhiều hơn con gái; Trẻ sinh non ít hoạt động hơn so với trẻ sinh đủ tháng và mức độ hoạt động cao ở trẻ có liên quan đến chỉ số BMI thấp ở các ông bố. Kết luận: Các phát hiện chỉ ra rằng giới tính, lịch sử sinh non, trung tâm chăm sóc trẻ em và BMỈ của cha ảnh hưởng đến hoạt động thế chất hàng ngày của trẻ nhỏ) [23].
Goldfield (năm 2015), tập trung xem xét mức độ phố biến của hoạt động thể chất, hành vi tĩnh tại và béo phì trong trẻ mầm non và tác động của những hành vi và điều kiện lối sống này đối với sức khỏe của trẻ em mẫu giáo. Nghiên cứu hướng đến việc tim ra biện pháp can thiệp trong các trường mầm non nhằm tăng cường hoạt động thể chất, giảm hành vi tĩnh tại và cải thiện sự phát triến kỹ nàng vận động và thành phần cơ thế ở trẻ mẫu giáo. Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra kết luận dựa trên tài liệu và nêu bật các vấn đề cùng hướng nghiên cứu trong tương lai để tối đa hóa việc tăng cưòng sức khỏe và phòng ngừa bệnh mãn tính ở trẻ em, trong đó nhấn mạnh vai trò của hoạt động thế chất đối với sự phát triến của trẻ) [21]. Sara Crosatti Barbosa cho rằng: cần thiết phải xác định mức độ hoạt động thể chất của trẻ em trong suốt thời gian ở trường mầm non, và các yếu tố liên quan.
Các tác giả đã phân tích 1485 trẻ em từ 2-6 tuổi. Kết quả cho thấy, trẻ em đi học mẫu giáo dành phần lớn thời gian trong ngày cho hành vi tĩnh tại. Các hoạt động được khởi xướng bởi người lớn có xu hướng dẫn đến mức độ hoạt động thể chất 9 thấp hơn ở trẻ em. Không gian bên trong dành cho game, game ngoài trời, đánh dấu trên sàn đế chơi, nhảy và leo trèo là một số hành động làm tăng mức độ hàng ngày hoạt động thế chất của trẻ em ở những nơi như vậy.
Nghiên cứu đưa ra gợi ý về việc cần tăng hoạt động vận động trong trường mầm non, giảm các hoạt động tĩnh [26]. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục thế chất cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non trong bối cảnh thực hiện đề án tồng thể phát triển thể lực tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2021-2030 Quản lý giáo dục được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và thu được nhiều kết quả, tạo nền tảng khoa học, làm động lực thúc đấy khoa học quản lý giáo dục phát triển. Bằng quá trình nghiên cứu nghiêm túc, các tác giả: Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh và Trần Thị Sinh đã phát hiện đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi: “Đó là sự khác biệt hoàn toàn về thể trạng, tâm lý, sinh lý và tư duy” [22, tr. Nhóm tác giả này cũng khái quát được những vấn đề cơ bản trong hoạt động quản lý giáo dục ở bậc học mầm non.
Đặc biệt, đã chỉ ra những đặc điếm và sự khác biệt trong 10 công tác quản lý ở bậc học này so với các bậc học khác và những yêu cầu đối với người quản lý ờ bậc học này. Trong công trình nghiên cứu: “Những cơ sở về khoa học quản lý” tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyền Thị Mỹ Lộc đà chỉ ra quy trình quản lý giáo dục gồm 4 bước như sau: “Kế hoạch hóa - Tồ chức - Lãnh đạo - Chỉ đạo - Kiểm tra” [6, tr. Theo nhóm tác giả này thì quá trình quản lý giáo dục, nhất là giáo dục thế chất cho trẻ 5-6 tuổi phải được thực hiện theo một quy trình nhất định. Từ công tác lập kế hoạch quản lý giáo dục đến tô chức thực hiện quá trình quản lý giáo dục, lành đạo - chỉ đạo thực hiện công tác quản lý giáo dục một cách sâu sát, đến kiểm tra - đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng.
Nghiên cứu về quản lỷ hoạt động giáo dục thế chất cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non có thể kê đến một số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Thị Huyền (2017), đã phân tích thực trạng công tác quản lý giáo dục thể chất ở trường mầm non theo hướng đảm bảo chất lượng. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non như: Bồi dường kiến thức và nghiệp vụ quản lý hoạt động GDTC cho bộ quản lý các nhà trường mầm non của huyện Đông Anh; Phát triển kỹ năng kết hợp bài tập vận động với các yếu tố thiên nhiên và thiết bị tập luyện đề nâng cao hiệu quả GDTC cho các bộ quản lý nhà trường mầm non của huyện Đông Anh; Nâng cao năng lực khai thác các trò chơi dân gian để giải quyết nhiệm vụ GDTC cho bộ quản lý các nhà trường mầm non của huyện Đông Anh [11].