CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CƠ BAN VE NGÂN HANG SO VA Vi ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan về ngân hang số 1. Khái niệm Trên trang công thông tin điện tử của ngân hàng nhà nước Việt Nam (2019) đã nhận định từ những năm 1960, thuật ngữ ngân hàng số (Digital banking) bắt đầu được hình thành với sự ra đời của các máy rút tiền tự động (ATM). Đến những năm 1980, khi mang băng thông phát triển mạnh mẽ, kéo theo các dịch vụ của ngân hàng bán lẻ được kết nối với khách hàng qua các mạng điện tử, phát sinh nhu cầu giao dịch và kiểm kê trực tuyến đến từ cả hai phía ngân hàng và khách hàng.
Trong công cuộc cách mạng 4.0 hiện nay, số hóa luôn được ưa chuộng và ưu tiên phát triển, là một trong các điều kiện thiết yếu giúp các ngân hàng tôn tại, vươn mình trong cuộc đua cạnh tranh khốc liệt. Vậy ngân hang số là gì? Cũng trên trang cổng thông tin của ngân hàng nhà nước Việt Nam, thạc sĩ Vũ Hong Thanh (2016) đã đưa ra định nghĩa “ngân hang số là sự kết hợp các công nghệ đang phát triển và công nghệ mới trong các tô chức dịch vụ tài chính nhằm phù hợp với những thay đổi trong các mối quan hệ bên trong và bên ngoài nhằm cải tiến dịch vụ và trải nghiệm khách hàng một cách hiệu quả, nâng cao năng lực thích ứng với môi trường kinh doanh cạnh tranh cao va nâng cao năng lực quản tri kinh doanh của ngân hàng thương mại trong tương lai gần”. Trên trang Topbank (2018) thì “ngân hàng số là khái niệm dùng để chỉ những ngân hàng có thé thực hiện được hau hết các giao dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến, thông qua mạng internet. Các giao dịch ngân hàng số được thực hiện rất đơn giản và nhanh gọn, mọi lúc - mọi nơi, khách hàng không cần đến chi nhánh ngân hàng, tối thiêu hóa các thủ tục liên quan nên khách hàng hoàn toàn chủ động trong các giao dịch của mình”.
Hay trên Tạp chí Tài chính (2018) đưa ra khai niệm sau “Ngân hàng số là một hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống”. Khi đó, người dùng sẽ không phải thực hiện các giao dịch theo cách truyền thống xưa cũ nữa, mà sẽ được trải nghiêm, được sử dụng những dịch vụ mang xu thế của thời đại phát triển mới. SVTH: Phạm Thu Hiển 5 Lóp: TCDN58B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm Xuân Hòa Theo Don Bergal (2016) “Ngân hàng số là số hóa tất cả các hoạt động, chương trình và sản phẩm mà trước đây chỉ dành cho khách hàng trong một chỉ nhánh ngân hàng”. Tuy nhiên, để phù hợp với bối cảnh phát triển trong kinh tế hiện nay thì định nghĩa ngân hàng số chỉ dừng lại ở số hóa những thứ đã có là chưa đầy đủ.
Đây cần được coi là mô hình kinh doanh mới, tiên tiến hơn, là cách tiếp cận theo hướng mới tạo ra những giá trị lớn hơn. Lợi ích ngân hàng số mang lại cho ngân hàng và khách hàng Ngân hàng sô trước tiên mang lại lợi ích cho chính bản thân ngân hàng, giúp các ngân hàng gắn kết, tương tác, kết nối với khách hàng nhiều hơn, từ đó thấu hiểu khách hàng và đưa ra những sản phẩm, dịch vụ sáng tạo, phù hợp, luôn gắn với nhu cầu và lợi ích của khách hàng. Mặt khác, ngân hàng với các nghiệp vụ chuyên sâu và khối đữ liệu không 16 của ngân hàng, sử dụng ứng dụng ngân hàng số giúp ngân hang quản trị các nghiệp vụ tối ưu hơn (Hà Thu, 2018) Với khách hàng, đây là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng sé. Trước tiên phải ké đến sự tiện lợi trong thanh toán và giao dịch khi sử dụng ngân hàng số.
Với một chiếc điện thoại thông minh, máy tính bang hay laptop có kết nỗi internet, chỉ qua một vai thao tac cơ bản, nhanh chóng, khách hàng có thé thuc hién rất nhiều giao dịch với ngân hàng số mọi thời điểm, mọi địa điểm trong hay ngoài nước. Trước khi các dịch vụ số hóa ra đời, khách hàng phải sắp xếp thời gian đến tận chi nhánh ngân hàng và phải mang theo rất nhiều loại giay tờ dé mở thẻ hay thực hiện các giao dịch mà ngâ hàng cung cấp. Giờ đây, với ngân hàng số, khách hàng chỉ cần số điện thoại, địa chỉ email là có thé đăng ký tài khoản, mở thẻ trên website hay ứng dụng một cách nhanh chóng, các giao dịch nạp tiền, chuyển khoản đơn giản, tiện lợi vô cùng. Khách hàng có cơ hội được trải nghiệm với rất nhiều dịch vụ tiện ích khác cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, như giải trí, dịch vụ giao thông, mua sắm, tư vấn sức khỏe.
Thay vì khách hàng phải tải nhiều ứng dụng riêng biệt, hệ sinh thái trong ngân hàng số sẽ tích hợp tất cả các dịch vụ tiện ích cần thiết cho khách hàng chỉ với một ứng dụng. Tiếp đến, ngân hàng số giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức và chỉ phí. Đề thu hút người dùng, cải thiện trải nghiệm khi sử dụng dịch vụ cho khách hàng, các ngân hàng số trên thị trường hiện nay đã xây dựng biểu lãi, phi rất cạnh tranh, giảm thiểu SVTH: Phạm Thu Hiển 6 Lóp: TCDN58B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm Xuân Hòa nhiều chi phí cho khách hàng như phí duy trì tài khoản, phí rút tiền, phí chuyền tiền. kết hợp với nhiều chương trình khuyến mãi, cộng tiền thưởng hấp dẫn.
Lợi ích tiếp theo mà ngân hàng số mang lại là đảm bảo độ chính xác rất cao cho các giao dịch trực tuyến của khách hàng. Tắt cả hoạt động trong quá trình giao dịch của khách hàng đều được tính toán, xử lý nhanh chóng và ghi nhận đầy đủ, chính xác tuyệt đối. Tính bảo mật thông tin trong ngân hàng số cũng rất được quan tâm và chú trọng. Mọi ứng dụng ngân hàng số ngày nay đều được xây dựng trên nền tảng nhiều lớp bảo vệ.
Đề đảm bảo tính an toàn, trước khi thực hiện một giao dịch, hệ thống sẽ gửi cho người dùng một mã OTP (one time password) hay iOTP để người dùng xác nhận giao dịch. Mật khẩu dùng một lần này là day số gồm 06 ký tự được tạo ra một cách ngẫu nhiên, chỉ có khách hàng là người dùng sở hữu và sử dụng, người dùng phải điền đúng mã mới có thê tiếp tục thực hiện giao dịch, ngay cả ngân hàng số cung cấp dịch vụ cũng không có mã này và ngân hàng hay bat cứ tô chức nào cũng không được cấp quyền yêu cầu khách hàng phải cho thông tin về mã. Ngoài ngân hàng là bên cung cấp dịch vụ, khách hàng là bên sử dụng các dịch vụ thì các đối tác, doanh nghiệp, đối tác cung cấp dịch vụ ngoài ngân hàng tích hợp trên ứng dụng ngân hàng số cũng được hưởng rất nhiêu lợi ích, bên cạnh sự gia tăng doanh thu bán hàng, chia se lợi nhuận với ngân hàng thì mối quan hệ cộng sinh này giúp giái các bài toán cho bên thứ bacác van đề tiết kiệm, tôi ưu hóa thời gian, chi phí cũng như các nguồn lực khác dé tiếp cận với tập khách hàng khổng 16, tiềm năng trên ngân hàng số. Như vậy, chúng ta có thé nhận ra rõ những lợi ích vượt trội mà ngân hang số sẽ mang lại cho tat cả các bên.
Chính vì những ưu điểm ưu việt này sẽ giúp thúc day mô hình ngân hàng số mở rộng, phát triển hơn nữa (Yolo, 2019). Các tính năng ưu việt của ngân hàng số Ngân hàng sô có hau hệt tat cả các tính năng của một ngân hang thông thường, các tính năng này được mở rộng, tích hợp phong phú, đa dang hơn. Khách hàng có thé dễ dàng nạp tiền vào tài khoản của mình từ nhiều nguồn như tiền mặt, thẻ cào điện thoại, tiền từ ví điện tử; chuyển tiền trong và ngoài ngân hàng, chuyên tiền quốc tế; tạo tài khoản tiền gửi tiết kiệm; vay nợ cho tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh, nhắc nợ; thanh toán các hóa đơn từ những hóa đơn nhỏ lẻ đến những hóa đơn có giá trị lớn; tham gia, mua bán các sản pham tài chính khác như dau tư, chứng khoán, bảo hiểm; quản lý tài SVTH: Phạm Thu Hiển 7 Lóp: TCDN58B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm Xuân Hòa chính cá nhân và doanh nghiệp. Hầu hết các tính năng này đều được tích hợp trong một ứng dụng mà ngân hàng tạo ra, các ứng dụng này cho phép người dùng là các khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng hay trên các thiệt bị điện tử thông minh, rất tiện lợi và dễ sử dụng, độ bảo mật rất cao.
Xu hướng của ngần hàng số trong hệ thống ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triên mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các ngân hàng truyền thống đang đối mặt với sự cạnh tranh gia tăng từ làn sóng fintech khởi nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp phần mềm tham gia vào việc triển khai hệ thống ngân hàng số, cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cho khách hàng cá nhân, cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử cho doanh nghiệp số, dịch vụ cho vay ngang hàng (peer to peer), cho vay lãi suất thấp dành cho sinh viên, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ, cung cấp dịch vụ đầu tư tự động, v. Theo kết quả nghiên cứu của Accenture và được Financial Times đăng tải, các công ty tài chính lấn sân sang mảng thanh toán hay sự ra đời mạnh mẽ của các công ty fintech như một xu thé mới nỗi lên trên thế giới bắt đấu từ năm 2005, ước tính đến năm 2016, chỉ riêng tại châu Âu, sự góp mặt của các ngân hàng thế hệ mới (tên gọi chung của nhóm công ty ké trên — neo-bank) đã lên tới 1.400, một con số tương đối khổng 16. Các công ty được gọi chung là các ngân hàng thế hệ mới này ra sức dồn hết nguồn lực vào cuộc chơi, khi mà sân chơi chính là nơi cung cấp các dịch vụ tài chính, có các ông lớn lâu năm chính là đại diện của các ngân hàng theo đúng bản chất và chức năng. Cuộc đua càng gay can hơn khi có thêm sự xuất hiện của các tập đoàn công nghệ khổng 16 làm gia tăng sức nóng, sức cạnh tranh trên thị trường hơn bao giờ hết.