Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm và đặc điểm về thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) 1. Một số khái niệm Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là hình thức thanh toán thông qua các phương tiện khác không phải tiền mặt như tài sản, chứng chỉ có giá trị tương đương. Nghĩa là người tiêu dùng có thể sử dụng các giấy tờ có giá, tài sản hữu hình (không phải vàng, bạc) hoặc sử dụng công cụ để thanh toán, nhưng chủ yếu thông qua các tổ chức tín dụng thay vì người tiêu dùng và người bán trực tiếp trao đổi với nhau hiện nay.
Đặc điểm của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Hoạt động TTKDTM đã xuất hiện từ rất lâu. Lịch sử xuất hiện thanh toán chuyển khoản đầu tiên ở nước Anh. Trước năm 1854 nước Anh phát hành tờ giấy bạc 1000 bảng Anh trị giá bằng 7,3224 kg vàng để tiện cho các nhà tư bản rút tiền mặt thanh toán với nhau, đến chiều thì lại nộp vào ngân hàng. Năm 1854, nước Anh phát minh ra phòng thanh toán bù trừ và mang kết quả thanh toán bù trừ về làm chuyển khoản giữa các nhà tư bản thì việc rút tiền mặt buổi sáng nộp lại buổi chiều chấm dứt.
Kể từ đó các ngân hàng nước Anh chuyển từ các ngân hàng tiền mặt thành các ngân hàng chuyển khoản. Hoạt động TTKDTM được dựa trên cơ sở tiền gửi ở ngân hàng, việc thanh toán được tiến hành bằng phương pháp ghi chuyển từ tài khoản người này sang tài khoản người khác. (theo: http://tapchitaichinh. Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế 1.
Đối với nền kinh tế - xã hội 5 - Một là, giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. - Hai là, tiết kiệm tối đa nguồn chi phí liên quan đến việc phát hành và lưu thông tiền tệ trong xã hội. - Ba là, góp phần giúp Nhà nước điều tiết được nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát được tình trạng lạm phát có thể xảy ra. - Bốn là, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn cho xã hội 1.
Đối với hệ thống ngân hàng a. Ngân hàng Trung Ương - Tạo điều kiện cho các TCTD khai thác tốt nhất chức năng trung gian thanh toán của nền kinh tế giúp thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn hiệu quả cho đất nước. - Tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành trôi chảy và nhịp nhàng, làm thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh chóng góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất và luân chuyển hàng hóa. - Góp phần giảm lượng tiền mặt trong lưu thông trên thị trường, do đó hạn chế lạm phát, giúp lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền; mặt khác tạo điều kiện cho NHNN thực hiện tốt nhiệm vụ điều hòa lưu thông tiền tệ và kiểm soát các giao dịch không dùng tiền mặt giữa các ngân hàng khác hệ thống, thường xuyên biết được khối lượng chu chuyển tiền tệ không bằng tiền mặt, vì vậy sẽ nâng cao hiệu lực thi hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Đối với hệ thống ngân hàng thương mại: - Tăng thu nhập từ thu phí dịch vụ TTKDTM. Từ đó làm thay đổi cơ cấu thu nhập trong tổng thu nhập, nâng cao khả năng tài chính, khả năng cạnh tranh và tạo sự phát triển bền vững cho hệ thống ngân hàng. - Hiệu quả từ phát triển các hoạt động TTKDTM là giúp cho việc khai thác và sử dụng linh hoạt, hiệu quả các nguồn vốn tiền gửi. Đồng thời TTKDTM cũng kích thích các hoạt động dịch vụ ngân hàng hiện đại với nhiều tiện ích phát triển như: dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền điện tử, thanh 6 toán trực tuyến.
Đây cũng chính là một trong những điều kiện quan trọng để thu hút, hấp dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Đối với khách hàng Một là, đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách kịp thời và đảm bảo an toàn về vốn cũng như tài sản cho khách hàng. Hai là, tiện lợi và linh hoạt trong thanh toán trong và ngoài nước. Ba là, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Các hình thức TTKDTM qua ngân hàng 1. Thanh toán bằng Séc (Cheque): Séc là lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản, được lập theo mẫu do ngân hàng Nhà nước quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán (ngân hàng, kho bạc…) trích một số tiền từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng (người cầm séc hoặc người được chỉ định trên tờ séc) trong thời gian hiệu lực của tờ séc đó. Chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm: Người phát hành, người thụ hưởng và ngân hàng (trong đó người phát hành và người thụ hưởng nhất thiết phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng). Mỗi chủ thể đều có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định trong thanh toán séc.
Chữ ký của người ký phát là chữ ký bằng tay trực tiếp trên tờ séc của người có quyền và nghĩa vụ đối với tờ séc hoặc người được ủy quyền lập và ký phát séc. Thanh toán bằng lệnh chi, ủy nhiệm chi (UNC) Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước yêu cầu Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng. Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng, dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống Ngân hàng hoặc Kho 7 bạc Nhà nước. Trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước bên trả tiền phải hoàn tất lệnh chi đó, hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền, hoặc lệnh chi lập không hợp lệ.
Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ bên thụ hưởng khi nhận được chứng từ hợp lệ phải ghi có ngay vào tài khoản và báo cho khách hàng biết. Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu (UNT) Uỷ nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao, hoặc dịch vụ đã cung ứng. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ người thụ hưởng biết để làm căn cứ thực hiện các uỷ nhiệm thu. Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản trong một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước cùng hệ thống hoặc khác hệ thống.
UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ cho người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó thường được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán bằng thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ hay lĩnh tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động. Ở một số nước, các hãng hay các công ty kinh doanh lớn cũng phát hành thẻ thanh toán để thu tiền bán hàng của mình. Thẻ thanh toán có nhiều loại nhưng có một số loại thẻ sau được sử dụng phổ biến: 8 - Thẻ ghi Nợ: Người sử dụng loại thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ".
Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư tài khoản tiền gửi của chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do ngân hàng phát hành thẻ quy định. Hạn mức của thẻ được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử hoặc được ghi vào dải băng từ nếu là thẻ từ. Loại thẻ này áp dụng cho những khách hàng có quan hệ tốt, thường xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng. - Thẻ ký quỹ thanh toán (thẻ loại B): là loại thẻ mà để được sử dụng thẻ, khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ" thông qua việc tính tiền gửi hoặc nộp tiền mặt.
Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ. Thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng. - Thẻ tín dụng (thẻ loại C): áp dụng với những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng đồng ý cho vay tiền để mua thẻ. Mức tiền cho vay được coi như hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận.
Thẻ thanh toán dù dưới hình thức nào cũng phải có đầy đủ các yếu tố: Tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, nhãn hiệu thương mại và thời hạn sử dụng thẻ. Các phương tiện TTKDTM khác - Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (on-line banking services) Để triển khai các hoạt động bán lẻ, các NHTM đã ứng dụng các công nghệ tin học trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán ngân hàng trực tuyến như: thanh toán cước phí điện thoại, nước sinh hoạt, internet, điện, trả tiền các hóa đơn mua hàng tại các siêu thị, cửa hàng chuyển tiền điện tử. Khi ngân hàng mở hoạt động thanh toán trực tuyến thì ngân hàng thay mặt cho khách hàng trả cho các nhà cung cấp dịch vụ một khoản tiền mà họ đã cung cấp dịch 9 vụ cho khách hàng của NHTM. Dịch vụ thanh toán trực tuyến thực hiện được là nhờ kênh nối trực tuyến giữa hệ thống phần mềm thanh toán của NHTM với hệ thống của các nhà cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp), do có kênh kết nối trực tuyến này nên NHTM thực hiện được các yêu cầu của khách hàng.
- Dịch vụ trả lương tự động: Hình thức trả lương này gắn liền với việc sử dụng tài khoản cá nhân tại các NHTM và sử dụng thẻ thanh toán cùng với máy rút tiền tự động ATM (Automatic teller machine). Cách thức trả lương tự động của NHTM như sau: + Chủ doanh nghiệp thỏa thuận với ngân hàng các nội dung về tổ chức trả lương theo định kỳ vào tài khoản của người lao động. o Người lao động phải mở TK cá nhân và sử dụng thẻ thanh toán của NHTM.