Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Giới thiệu tính cấp thiết, thực trạng hiện nay, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tổng quan lý thuyết và trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan từ đó hệ thống lại một số mô hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài để lựa chọn ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng hệ thống máy giao dịch tự động ở các Ngân hàng TMCP tại TP. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo (Crobach’s alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), 7 phân tích ma trận tương quan, phân tích hồi quy cũng như các kiểm định cần thiết.
Và cuối cùng là kết quả hồi quy của từng nhân tố chính. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Đưa ra một số kết luận về kết quả nghiên cứu đồng thời đề xuất một số hàm ý quản trị về ý định sử dụng hệ thống máy giao dịch tự động tại các Ngân Hàng TMCP tại TP. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết hành vi hợp lý và lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB: 2.
Khái niệm về lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB: Trong tâm lý học xã hội, Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) là một khuôn khổ được sử dụng rộng rãi để hiểu và dự đoán hành vi của con người (Armitage & Conner, 2001). Với sự tự tin vào năng lực bản thân được công nhận là động lực trực tiếp của hành vi, nó đã phát triển thành Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) và Mô hình hành động hợp lý (Armitage & Conner, 2001). Hành vi sức khỏe, ý định đạo đức và cam kết của tổ chức chỉ là một số lĩnh vực mà TRA đã được sử dụng. Ngoài ra, TRA có liên quan đến các liệu pháp thay thế vì có vấn đề về định nghĩa về thái độ.
Khả năng dự đoán của TRA đã được thể hiện trong nhiều tình huống khác nhau trong đó bao gồm ý định mua sản phẩm (Gillmore và cộng sự, 2002; Belleau và cộng sự, 2007). Nhưng người ta đề xuất rằng TPB - một phần mở rộng của TRA, có thể dự đoán ý định và hành vi chính xác hơn, đặc biệt là trong những trường hợp không có chú ý (Kurland, 1995; Ajzen, 2000). Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về mô hình TRA, theo phần mở rộng để nghiên cứu hành vi, ý định sử dụng sản phẩm. Mô hình TRA tuy có những tác động qua nghiên cứu nhưng vẫn có những khó khăn khi sử dụng nó, đặc biệt so sánh nó với những mô hình khác.
Những nỗ lực nhằm nâng cao năng lực giải thích và khắc phục những thiếu sót này được thể hiện rõ trong trong mô hình TPB. Lý thuyết Lý luận (TRA), mặc dù liên tục được sửa đổi và tranh cãi, vẫn tiếp tục là khuôn khổ cơ bản để hiểu hành vi con người khi nghiên cứu về lý thuyết hành vi phát triển và phát triển. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)- một phần mở rộng của TRA được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để hiểu và dự đoán hành vi của con người. TPB được trình bày lần đầu tiên vào năm 1985, đã phát triển thành một trong những mô 9 hình tâm lý xã hội được sử dụng rộng rãi nhất để về ý định hành vi (Faridi và cộng sự, 2020).
Ba loại niềm tin được đưa vào lý thuyết hành vi có kế hoạch là niềm tin về hành vi, quan điểm chuẩn mực được chia sẻ và niềm tin về quyền tự chủ. Lý thuyết này minh họa mối liên hệ giữa niềm tin và hành vi của một cá nhân. Khái niệm này được khởi xướng bởi Icek Ajzen năm 1991, nhằm mục đích cải thiện khả năng dự đoán của Lý thuyết về hành động hợp lý (Tiếng Anh: Theory of reasoned action) thành phần nhận thức của kiểm soát hành vi được đưa vào mô hình, mô hình này có một số lợi ích trong việc dự báo và làm sáng tỏ hành vi của một cá nhân trong một tình huống nhất định. Nó được xem là một trong những lý thuyết được áp dụng và trích dẫn rộng rãi nhất về lý thuyết hành vi.
Người ta đã quan sát thấy rằng, đặc biệt là trong các tình huống liên quan đến sức khỏe, nhận thức kiểm soát hành vi cũng quan trọng như thái độ trong việc giải thích ý định trong nhiều loại hành vi (Godin & Kok, 1996). Khả năng thích ứng của TPB đã được chứng minh bằng việc áp dụng nó trong nhiều bối cảnh khác nhau về ý định sử dụng. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) vẫn là một mô hình hữu ích để hiểu hành vi và ý định của con người. Bất chấp những lời chỉ trích về những thiếu sót của nó, các nhà nghiên cứu vẫn đang nỗ lực cải thiện và mở rộng mô hình nhằm tăng khả năng dự đoán và sự phù hợp của nó trong nhiều tình huống khác nhau.
Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý TRA và lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB: Mô hình TRA cho thấy thái độ của khách hàng với đối tượng liên quan một cách có hệ thống đối với hành vi của họ. Vì vậy mô hình này khẳng định được mối quan hệ giữa thái độ, thành phần chuẩn mực, nhận thức của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định, hành vi khách hàng. 10 Cấu trúc dựa trên Thành phần thái niềm tin hành vi độ Cấu trúc dựa trên Cảm nhận chuẩn Ý ĐỊNH HÀNH VI niềm tin chuẩn mực mực Kiểm soát cấu trúc Cảm nhận khả dựa trên niềm tin năng đạt kết quả Hình 2. Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen) Theo nguồn: Godin (1993) Trong đó: Thái độ: Những đánh giá mang tính đưa ra nhận định hoặc tình cảm mà mọi người dành cho người khác, sự vật hoặc khái niệm khác được gọi là thái độ.
Chúng có tác động đáng kể đến cách mọi người cư xử và đưa ra quyết định. Theo Eagly và Chaiken (1993), thái độ thường được hình thành bởi sự kết hợp của các thành phần nhận thức, tình cảm và hành vi. Được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.
Cảm nhận về chuẩn mực: Nhận thức của một người tuân thủ theo các quy tắc, hướng dẫn hoặc tiêu chí được chấp nhận để kiểm soát hành vi, hiệu suất hoặc chất lượng được gọi là cảm nhận về chuẩn mực. Ý thức về tiêu chuẩn có thể ảnh hưởng đến cách mọi người đánh giá hành động của chính họ hoặc của người khác trong bối cảnh tâm lý học và xã hội học dựa trên các chuẩn mực xã hội hoặc niềm tin cá nhân. Có thể được đánh giá bằng cách sử dụng những mối quan hệ của khách hàng (gia 11 đình, bạn bè, đồng nghiệp…). Những người này sẽ cho ý kiến về sản phẩm họ mua.
Mức độ ủng hộ hay phản đối việc mua hàng của người tiêu dùng và động lực của người tiêu dùng trong việc tuân theo mong muốn của người sở hữu sẽ quyết định mức độ ảnh hưởng của yếu tố chuẩn mực chủ quan đến xu hướng mua hàng của người tiêu dùng. Cảm nhận về khả năng đạt được kết quả: Cảm nhận khả năng đạt được kết quả là thuật ngữ tâm lý quan trọng được xem xét kỹ lưỡng trong nhiều bối cảnh khác nhau. Được định nghĩa là sự tự tin của một người vào khả năng thực hiện một nhiệm vụ và mục tiêu nhất định (Bandura, 1977). Quan điểm này có tác động lớn đến việc con người làm việc chăm chỉ như thế nào, kiên trì, kiên cường ra sao khi đối mặt với khó khăn, thất bại.
Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT: 2. Khái niệm lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT: Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT). Venkatesh và cộng sự (2016) đã tóm tắt nội dung nghiên cứu về UTAUT, nhấn mạnh tầm quan trọng của "UTAUT trong từng bối cảnh". Để giải quyết thách thức trong việc lựa chọn mô hình lý thuyết phù hợp, Dwivedi et al.
(2020) đã tạo ra một phiên bản sửa đổi của UTAUT, được gọi là meta-UTAUT (UTAUT2), dựa trên phân tích tổng hợp của 162 bài báo. Hơn nữa, Dwivedi et al. (2017) đã xem xét một số mô hình lý thuyết và đề xuất mô hình UTAUT, nêu bật khả năng ứng dụng rộng rãi của nó trong việc tìm hiểu việc áp dụng và sử dụng IS/IT. Mặc dù UTAUT đã được chấp nhận rộng rãi nhưng các câu hỏi vẫn được đặt ra về tính hợp lệ của nó và sự cần thiết phải nghiên cứu thêm.
Trong một phân tích tổng hợp Yuan, R. (2022) đã đặt câu hỏi về độ tin cậy của UTAUT và đề xuất một hướng điều tra. Ngoài ra, Wang và cộng sự. (2021) nhấn mạnh việc kết hợp các mối quan tâm về niềm tin, bảo mật và quyền riêng tư vào lý thuyết trong phân tích trắc lượng thư mục của họ về xu hướng nghiên cứu UTAUT.
Sự chú ý đáng kể đã được dành cho lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) trong một số ngành học thuật, bao gồm khoa học máy tính, kinh tế và tâm lý học. Để đánh giá 12 việc áp dụng và sử dụng công nghệ trong nhiều tình huống khác nhau, mô hình UTAUT đã được cập nhật và sử dụng rộng rãi đã tạo ra một phiên bản sửa đổi của UTAUT, được đặt tên là meta-UTAUT, để giải quyết vấn đề lựa chọn mô hình lý thuyết phù hợp cho việc áp dụng công nghệ. Phiên bản này dựa trên sự tổng hợp các phát hiện từ 162 cuộc điều tra trước đó (Dwivedi và cộng sự, 2020). Ngoài ra, Békés và cộng sự (2021) và Vanderschaaf và cộng sự (2023) đã phát triển các biện pháp tự báo cáo để đánh giá mức độ chấp nhận liệu pháp tâm lý từ xa của các nhà trị liệu và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ thông tin của sinh viên, bằng cách sử dụng khung UTAUT.
Khả năng ứng dụng của mô hình trên trong một số lĩnh vực công nghệ đã được chứng minh bằng cách sử dụng nó trong việc phân tích ý định sử dụng các dịch vụ chính phủ điện tử, áp dụng sách kỹ thuật số và hệ thống kế toán đám mây được điều tra bằng UTAUT (Huang và cộng sự, 2013; Fernando, 2021).