CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM T ÀI CHÍNH GIAO DịCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN 1. Giới thiệu về sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán 1. Khái niệm sản phẩm tài chính Khái niệm sản phẩm tài chính rất rộng, theo FSR (Financial Services Reform) nó bao gồm tất cả các sản phẩm liên quan đến : - Đầu tư tài chính (cổ phiếu, giấy nợ, lãi suất hưu trí, đầu tư vào bảo hiểm nhân thọ và tiền gửi ngân hàng). - Quản lý rủi ro tài chính (bảo hiểm chung và các sản phẩm phái sinh được sử dụng để đầu cơ).
- Thực hiện những khoản thanh toán không d ùng tiền mặt (thẻ ghi nợ, séc, thẻ thông minh và séc du lịch). Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán 1.Lịch sử hình thành giao dịch ký quỹ Giao dịch ký quỹ có nguồn gốc từ thị trường futures về hàng hóa. Thị trường futures đã xuất hiện từ thời trung cổ, nó đ ược phát triển để đáp ứng yêu cầu của giới nông dân và lái buôn. Đi vào phân tích tình huống nông dân ở thời điểm thu hoạch trong tương lai, giá cả hàng hóa có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp và điều này ảnh hưởng rất nhiều đến họ nhất l à khi họ cần tiền.
Và tương tự, giới lái buôn cũng chịu rủi ro khi giá cả h àng hóa biến động ở tương lai, trong khi họ là những người luôn cần hàng. Do vậy nông dân và lái buôn gặp nhau trước thời điểm thu hoạch để thỏa thuận giá cả cho thời điểm họ có hàng hoặc cần hàng trong tương lai. Điều đó có nghĩa là họ đã thương lượng loại hợp đồng futures về h àng hóa – là loại hợp đồng cung cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cách thức mua bán hàng hóa giữa các bên để có thể loại trừ rủi ro do giá cả hàng hóa không ổn định trong tương lai. Sự phát triển của hoạt động futures, k èm theo sự gia tăng những rủi ro dẫn đến việc xuất hiện hệ thống thanh toán b ù trừ các giao dịch.
Nền tảng của thanh toán bù trừ là một hệ thống tiền gửi hoặc bảo l ãnh tiền gửi, được yêu cầu từ những người tham gia hoạt động futures. Trong thực tế trao đổi, những khoản tiền gửi này được gọi là giao dịch ký quỹ, đó là số tiền mà khách hàng phải trả vào tài khoản của công ty môi giới khi anh ta thiết lập vị thế, đ ược gọi là ký quỹ, tỷ lệ ký quỹ thường 1-10% giá trị hợp đồng futures. Từ hoạt động ký quỹ trong giao dịch h àng hóa đã được vận dụng sang các sản phẩm tài chính khác như là chứng khoán (Giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán), ngoại tệ (Giao dịch ký quỹ at FOREX), vàng (Gold giao dịch ký quỹ) …và tiếp tục phát triển vào những năm 20 của đầu thế kỷ 20.2/ Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán Hiểu một cách đơn giản giao dịch ký quỹ chứng khoán có nghĩa là nhà đầu tư sẽ dùng tiền vay mượn từ nhà môi giới (nhà môi giới có thể là ngân hàng hoặc công ty chứng khoán được phép cho vay đầu tư chứng khoán nhưng trong phạm vi đề tài này cho phép tôi xem nhà môi gi ới chính là ngân hàng) sau khi đã đặt cọc một khoản cho nhà môi giới và toàn bộ số tiền đó (số tiền ký quỹ và số tiền vay mượn) được dùng để đầu tư chứng khoán, đồng thời chứng khoán đó sẽ được thế chấp cho ngân hàng. Tỷ lệ vay mượn phụ thuộc vào loại chứng khoán đầu tư cũng như chính sách của các ngân hàng, nhưng thông thường khoảng 50% giá mua chứng khoán hoặc ít h ơn và một số nhà môi giới lại yêu cầu mức ký quỹ lớn hơn 50% giá mua.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Sau đây tôi xin giải thích một số thuật ngữ dùng trong hoạt động giao dịch ký quỹ : - Cash account (Tài khoản tiền mặt): đây là một loại tài khoản thông thường được sử dụng trong giao dịch chứng kho án, khi nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư, mua bán chứng khoán. Trong tài khoản này, người chủ sở hữu giao dịch mua bán bằng hình thức chi trả tiền mặt cho các loại chứng khoán – Full payment. - Curent market value (Giá trị thị trường hiện tại): Đây là giá trị thị trường của các loại chứng khoán có trong t ài khoản của một nhà đầu tư vào thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch hôm trước. Nó còn là mức giá tại thời điểm đang xét (thời điểm hiện tại) của chứng khoán.
- Purchase Price (Giá mua) : là mức giá mua các loại chứng khoán ngay tại thời điểm mua. Nó được tính bằng cách lấy số l ượng chứng khoán nhân với giá mỗi chứng khoán vào thời điểm mua. - Leverage Trading Ratio (Chỉ số đòn bẩy) : là tỷ lệ giữa số tiền nhà đầu tư sử dụng để mua chứng khoán v à số tiền họ đặt cọc ban đầu. - Giao dịch ký quỹ account (Tài khoản ký quỹ) : đây là loại tài khoản được sử dụng trong giao dịch.
- Investor/Customer (Nhà đầu tư) : Là người đầu tư vào thị trường chứng khoán, là người chủ tài khoản. - Broker (Nhà môi giới) : Là người đứng ra cho nhà đầu tư vay tiền hoặc chứng khoán trong giao dịch. - Open Position Amount (Số tiền sẳn sàng để mua chứng khoán) : Là khoản tiền nhà đầu tư được toàn quyền sử dụng để giao dịch mua bán sau khi đã hoàn tất thủ tục ký quỹ mở tài khoản giao dịch ký quỹ, hay nói cách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 khác đây chính là giá trị của chứng khoán mà nhà đầu tư dự định dùng tài khoản giao dịch ký quỹ để mua. - Minimum Giao dịch ký quỹ (hoặc Minimum Account : Số tiền ký quỹ tối thiểu) : Là số tiền tối thiểu mà nhà đầu tư phải nộp vào để tài khoản giao dịch ký quỹ có thể hoạt động được.
- Giao dịch ký quỹ Requirements (Những yêu cầu về giao dịch ký quỹ): đây là những quy định, những yêu cầu của các cấp ( cơ quan quản lý cấp nhà nước, cơ quan quản lý tại sàn giao dịch, công ty chứng khoán, công ty môi giới) trong quá trình giao dịch bằng tài khoản ký quỹ; nhằm đảm bảo sự an toàn cho các công ty chứng khoán và các khách hàng trước những rủi ro do việc sử dụng đòn bẩy trong tài khoản ký quỹ. Những yêu cầu về giao dịch ký quỹ gồm hai loại chính : + Initial giao dịch ký quỹ requirements ( hoặc Initial Giao dịch ký quỹ viết tắt là IM- ký quỹ ban đầu) có thể tính bằng % hoặc tính bằng $. Là tỷ lệ giữa khoản tiền hoặc chứng khoán mà nhà đầu tư phải đặt cọc cho nhà môi giới để mua chứng khoán so với tổng giá trị chứng khoán nh à đầu tư muốn mua. Khoản đặt cọc này được quy định bằng IM% của giá mua chứng khoán vào thời điểm mở tài khoản; với IM là một con số được xác định là “mức tối thiểu quy định” bởi c ơ quan quản lý cấp nhà nước.
Ngoài ra, tùy theo từng sàn giao dịch và các công ty môi giới sẽ có nhiều mức IM khác nhau , có thể được thay đổi tùy theo nhu cầu thị trường vào các thời điểm khác nhau, nhưng những mức IM này buộc phải cao hơn mức tối thiểu quy định của cơ quan cấp nhà nước. Công thức tính IM : IM = Purchase price x IM% + Maintenance giao dịch ký quỹ requirements (viết tắt là MM- ký quỹ duy trì) : đây là mức ký quỹ tối thiểu phải có trong t ài khoản giao dịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ký quỹ trong quá trình giao dịch chứng khoán. Số dư trong tài khoản giao dịch ký quỹ sau mỗi giao dịch phải cao hơn hoặc bằng mức ký quỹ tối thiểu này. Mức này có thể cao hơn, tùy theo các nhà môi gi ới khác nhau đánh giá mức độ rủi ro của danh mục đầu tư như thế nào.
Nói cách khác là đối với những chứng khoán có mức giá dễ biến động hay có tính rủi ro cao th ì mức giá này sẽ cao hơn. - Giao dịch ký quỹable Securities ( hoặc Collateral : chứng khoán đặt cọc) : Là những chứng khoán được sử dụng để đặt cọc trong trường hợp nhà đầu tư đặt cọc bằng chứng khoán, do nhà môi giới nắm giữ. Cổ tức nhận được từ những chứng khoán này (trong khoảng thời gian chúng vẫn là chứng khoán đặt cọc) sẽ được nhà môi giới lấy, coi như là một khoản khấu trừ vào lãi suất cho vay và hoa hồng mà nhà đầu tư sẽ trả cho môi giới. -Actual Giao dịch ký quỹ (viết tắt là AM : Số tiền ký quỹ thật sự) : đây là căn cứ để bảo vệ nhà môi giới khỏi những rủi ro do sử dụng đ òn bẩy gây ra vào mỗi thời điểm nhất định.
AM được tính bằng công thức : AM = (Giá trị thị trường hiện tại – khoản vay của nhà đầu tư)/ Giá trị thị trường hiện tại - Giao dịch ký quỹ call (lệnh gọi nộp tiền ký quỹ): Là thông báo của công ty môi giới gởi đến chủ tài khoản, khi số dư trong tài khoản ký quỹ thấp hơn mức ký quỹ duy trì quy định trong hợp đồng, hoặc AM<MM. Thông báo này yêu cầu nhà đầu tư phải có biện pháp hoặc hành động để làm tăng số dư trong tài khoản đạt đến mức ký quỹ duy trì cho phép. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Debit Balance ( Số dư nợ) : Là tổng khoản nợ mà chủ tài khoản có nghĩa vụ chi trả cho nhà môi giới ( hoặc công ty môi giới). Nó bao gồm : + Khoản vay để mua chứng khoán = giá trị lúc mua của chứng khoán (Open Position Amount) – khoản đặt cọc ban đầu (Minimum Giao dịch ký quỹ) + Tiền lãi tính trên khoản vay để mua chứng khoán + phần hoa hồng môi giới mà nhà đầu tư phải chi trả cho nhà môi giới.
- Equity (vốn chủ sở hữu) : là chênh lệch giữa giá thị trường và số dư nợ. Equity này sẽ thay đổi trong hai trường hợp sau : + Khi giá thị trường hiện tại thay đổi tăng giảm theo xu hướng thị trường. + Khi tiền lãi của khoản vay để mua chứng khoán tăng l ên (do biểu lãi suất tăng, do thời gian nhà đầu tư vay tiền kéo dài). - Borrowing Rate = Call Money Rate (lãi suất vay trong giao dịch giao dịch ký quỹ) : Đây là mức lãi suất dùng để tính tiền lãi cho khoản vay của nhà đầu tư.