phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục hỗ trợ liên quan, nội dung của Đề tài được kết cấu thành ba chương: Chƣơng 1: KHUNG LÝ LUẬN VỀ CHỨNG QUYỀN BẢO ĐẢM Chƣơng 2: KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN Ở MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI Chƣơng 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 3 Chƣơng 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ CHỨNG QUYỀN BẢO ĐẢM 1. Giới thiệu chung về chứng quyền 1. Khái niệm Chứng quyền bảo đảm (CW) Chứng quyền là một loại chứng khoán cho phép người nắm giữ có quyền được mua hoặc bán tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ tổ chức phát hành tại một mức giá một khoảng thời gian nhất định. [5] Nhà đầu tư sẽ trả một khoản phí (premium) để sở hữu chứng quyền và được quyền mua hoặc bán chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước thời điểm đã được ấn định, hoặc được nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.
Để hiểu rõ được chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cần nắm bắt những thuật ngữ cơ bản liên quan đến sản phẩm. [5] Đối với nhiều nhà đầu tư, CW dường như không khác với quyền chọn, CW thường có kỳ hạn dài hơn quyền chọn, được phát hành dựa trên nhiều loại hình tài sản phong phú hơn so với quyền chọn. Các điều kiện của CW cũng phong phú hơn - CW có mức độ linh hoạt cao hơn và có thể được phát hành với các điều kiện cơ cấu nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Với CW thì nhà đầu tư không thể bị lỗ nhiều hơn giá trị đầu tư ban đầu, Khoản lỗ tối đa của nhà đầu tư được biết trước, và không phải nộp ký quỹ, tức là nhà đầu tư không phải nộp tiền để duy trì trạng thái nắm giữ của mình.Điểm này làm cho CW trở nên khác biệt so với các hình thức phái sinh khác.
Tại Việt Nam, CW được định nghĩa là “chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty chứng khoán (CtyCK) phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện” [17]. Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm phổ biến tại nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới với các tên gọi khác nhau như Covered Warrant (Anh, Đức, Úc, Canada), Derivative warrant (Hong Kong, Thái Lan), Structured warrant (Malaysia), 4 Call/put Warrant (Đài Loan), Equity-linked warrant (Hàn Quốc). Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm đầu tư tài chính có tính chất như một quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền được bán hoặc mua tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ nhà phát hành tại một mức giá vào hoặc trước thời điểm được xác định. Với nhiều đặc điểm giống như quyền chọn, nhưng lại có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn rất nhiều, chứng quyền có bảo đảm cung cấp một công cụ phòng vệ rủi ro và giúp nhà đầu tư có thể thực hiện các chiến lược đầu tư khác nhau với chi phí thấp hơn.
Hiện nay, chứng quyền có bảo đảm được nhiều chuyên gia đánh giá là sản phẩm đầu tư phổ biến nhất trong các TTCK mới nổi. Theo số liệu từ Hiệp hội các Sở GDCK thế giới (WFE), có ít nhất 42 Sở GDCK trong số 56 Sở GDCK thành viên đã triển khai giao dịch các loại sản phẩm Chứng quyền có bảo đảm khác nhau. [4] Về lý thuyết, khái niệm sản phẩm phái sinh khá rộng: bất kỳ sản phẩm nào có giá dựa trên giá của một sản phẩm khác thì đều được gọi là phái sinh. Trên thực tế, các nước thường chia các sản phẩm phái sinh thành 2 nhóm chính: một nhóm được các Sở tổ chức giao dịch ở sàn chứng khoán (securities division) bao gồm Right, Company warrant, Covered warrant và nhóm còn lại thường được tổ chức giao dịch ở sàn phái sinh (derivatives division) bao gồm các Hợp đồng tương lai và Hợp đồng Quyền chọn.
Hai nhóm sản phẩm nói trên sẽ khác nhau về mức độ rủi ro đối với nhà đầu tư - từ đó sẽ dẫn đến khác biệt về mô hình thanh toán bù trừ; khác biệt trong cách thức vận hành hệ thống giao dịch; cách thức thẩm định và quản lý niêm yết, lưu ký, đăng ký và thị trường phát hành sơ cấp. [17] Chứng quyền có bảo đảm là công cụ phái sinh nhưng không đòi hỏi những kỹ thuật giao dịch và thanh toán quá phức tạp, rủi ro thanh toán thấp nên không cần phải thanh toán bù trừ theo mô hình đối ứng thanh toán trung tâm do sản phẩm chứng quyền có bảo đảm không có khả năng gây ra các khoản lỗ vượt quá vốn đầu tư ban đầu, nó khác với các sản phẩm thuộc nhóm phái sinh Hợp đồng tương lai/Hợp đồng quyền chọn, khoản lỗ tối đa mà nhà đầu tư có thể phải chịu sẽ không chỉ dừng lại ở khoản tiền bỏ ra ban đầu mà còn có thể phải trả thêm tiền cho bên đối ứng. sẽ có thể đáp ứng đa dạng các phân khúc nhu cầu và mức độ rủi ro khác nhau của nhà đầu tư trên thị trường. [5] Việc phát triển thị trường chứng quyền có bảo đảm sẽ là bước tập dượt cho nhà đầu tư cho đến khi thị trường chứng khoán phái sinh chính thức triển khai thêm sản 5 phẩm Hợp đồng quyền chọn.
Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các thị trường đi trước cho thấy rằng mặc dù Hợp đồng Tương lai và Hợp đồng Quyền chọn là 2 sản phẩm phái sinh chuẩn hóa được giao dịch nhiều nhất trên thế giới nhưng Hợp đồng Quyền chọn luôn được cân nhắc triển khai sau Hợp đồng Tương lai vì đặc tính phức tạp của sản phẩm, trình độ hiểu biết của đa số nhà đầu tư và năng lực quản lý giám sát của cơ quan quản lý còn nhiều hạn chế đối với sản phẩm này. Chính vì vậy, cùng với Hợp đồng Tương lai trên thị trường chứng khoán phái sinh, việc vận hành sản phẩm chứng quyền có bảo đảm sẽ giúp thị trường quen dần với Hợp đồng Quyền chọn, tạo thuận lợi cho lộ trình phát triển sản phẩm trên thị trường chứng khoán phái sinh trong giai đoạn tiếp theo. Có khá nhiều nhà đầu tư đặt câu hỏi về tên gọi “Covered Warrant” mang ý nghĩa như thế nào? Thuật ngữ “Covered” phản ánh một thực tế là khi công ty chứng khoán phát hành chứng quyền có bảo đảm, họ phải thực hiện một số biện pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền. Theo đó, họ sẽ phải thực hiện phòng hộ rủi ro (Cover hoặc Hedge) bằng cách mua/bán chứng khoán cơ sở, hoặc giao dịch các chứng khoán tương đương khác (hợp đồng tương lai, quyền chọn…) và đây cũng là nghiệp vụ bắt buộc đối với tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm tại bất cứ thị trường nào trên thế giới.
[17] Tính chất “có bảo đảm - Covered” còn được thể hiện ở nhiều mức độ mang tính chắc chắn cao hơn, đặc biệt đối với các thị trường đang phát triển, có điểm xếp hạng tín nhiệm thấp và các thành viên thị trường còn thiếu kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro. Ngoài yêu cầu phòng hộ rủi ro, tổ chức phát hành tại các thị trường này còn phải nộp thêm một khoản ký quỹ (bằng tiền hoặc chứng khoán cơ sở) tại ngân hàng lưu ký khi phát hành chứng quyền có bảo đảm. Tùy theo thị trường, giá trị khoản ký quỹ cũng biến thiên từ mức ký quỹ một phần (partial collateralised) đến mức độ đảm bảo cao nhất, ký quỹ toàn phần (fully collateralised). Theo Thông tư 107/2016/TT- BTC, tổ chức phát hành chứng quyền tại Việt Nam phải ký quỹ bảo đảm thanh toán với giá trị tài sản bảo đảm ban đầu tối thiểu là 50% giá trị chứng quyền dự kiến chào bán.
Bên cạnh đó, khi phát hành chứng quyền có bảo đảm, tổ chức phát hành phải có Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án bảo đảm thanh toán và thực hiện các nghĩa vụ của tổ chức phát hành, cũng như Điều lệ phải có điều khoản về 6 quyền của người sở hữu chứng quyền. Vì vậy, chứng quyền có đảm bảo còn được xem là hợp đồng giao kết giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành. Theo đó, người sở hữu chứng quyền là chủ nợ có đảm bảo một phần của tổ chức phát hành và tổ chức phát hành có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu. Chứng Quyền Bảo Hiểm đầu tiên được giao dịch vào khoảng những năm 1990 tại Đức và Hồng Kông và từ đó phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới.
Các thị trường Chứng Quyền Bảo Hiểm phát triển gồm có Hồng Kông, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan… Với nhiều đặc điểm giống như quyền chọn, nhưng lại có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn nhiều, Chứng Quyền Bảo Hiểm cung cấp một công cụ phòng vệ rủi ro và giúp nhà đầu tư có thể thực hiện các chiến lược đầu tư khác nhau với chi phí thấp hơn. Hiện nay, Chứng Quyền Bảo Hiểm được nhiều chuyên gia đánh giá là sản phẩm đầu tư phổ biến nhất trên các thị trường chứng khoán (TTCK) mới nổi. Theo số liệu từ Hiệp hội các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) thế giới (WFE), có ít nhất 42 SGDCK trong số 56 SGDCK thành viên của Hiệp hội đã triển khai giao dịch các loại sản phẩm CW khác nhau.Tùy vào quy định của mỗi nước, CW có thể được phân loại là sản phẩm giao dịch như chứng khoán (securities) hoặc chứng khoán phái sinh (derivatives). Trong đó Hàn Quốc, Đài Loan, Đức… xếp CW vào nhóm chứng khoán; một số nước châu Âu xếp CW vào nhóm sản phẩm phái sinh.
Các nội dung của Chứng Quyền Bảo Đảm (CW) : 1. Đặc điểm của chứng quyền bảo đảm Niêm yết và giao dịch chứng quyền có bảo đảm Mặc dù được phát hành dựa trên một chứng khoán cơ sở khác, nhưng theo thông lệ quốc tế, chứng quyền có bảo đảm được tổ chức giao dịch trên thị trường giao ngay (cash market) cùng với cổ phiếu, ETF, quyền mua, chứng quyền công ty, với phương thức giao dịch hoàn toàn tương tự như cổ phiếu.