CHƯƠNG 1: BAO THANH TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA SẢN PHẨM BAO THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ 1. TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM BAO THANH TOÁN 1. Lịch sử hình thành Trong thị trường tự do, sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trở nên gay gắt hơn khi họ đều đưa ra các chế độ ưu đãi để bán được hàng. Một trong những chế độ ưu đãi đối với khách hàng là việc cấp tín dụng cho khách hàng tức là việc bán hàng cho trả chậm.
Đây là một trong các biện pháp mở rộng việc tiêu thụ hàng hóa có hiệu quả nhất. Có thể những người bán hàng không muốn cấp tín dụng vì làm như thế họ sẽ bị tổn hại, vốn sẽ bị ứ đọng làm hạn chế sự phát triển của công việc kinh doanh và họ còn phải đối đầu với biết bao rủi ro khi thu hồi nợ. Nhưng khi đối diện với sự chọn lựa giữa một bên là việc bán hàng cho trả chậm với một bên là việc không bán được hàng, họ sẽ chọn việc bán hàng cho trả chậm tức là họ buộc phải cấp tín dụng cho khách hàng. Sau khi cấp tín dụng cho khách hàng thì phát sinh vấn đề thu hồi nợ.
Một khách hàng có thể trả một khoản nợ thương mại vào cuối kì hạn, ví dụ một tháng hoặc có thể lâu hơn. Thực trạng này làm tổn hại lợi ích của người bán hàng. Thứ nhất họ đã tài trợ cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng, khách hàng đang sử dụng số tiền mà chính người cung cấp phải trả lãi. Trong khi đó nhà cung cấp cũng đang cần vốn tài trợ cho công việc sản xuất kinh doanh của chính họ.
Thứ hai họ phải thuê nhân viên để đòi nợ, nhắc nhở khách hàng về việc trả nợ, quản lý sổ cái bán hàng, do đó phát sinh thêm chi phí thu hồi nợ. Rủi ro cao nhất đối với nhà cung cấp là khi người mua hàng không có khả năng trả nợ. Vì vậy để tránh rơi vào tình trạng nợ khó đòi, bên bán phải kiểm tra thực trạng tín dụng và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Vì vậy buộc họ phải phân tích thẩm định người mua, nhưng họ làm công việc này không chuyên nghiệp bằng ngân hàng, vì mục đích của họ là bán được hàng nên sẽ vội vã trong quyết định có thể sẽ gây ra sai lầm là bán hàng cho những người có uy tín thấp và từ chối đối với những khách hàng có uy tín tốt.
Vì vậy trong trường hợp này nhà cung cấp rất cần sự hỗ trợ từ phía các tổ chức tín dụng. Vì thế nghiệp vụ BTT đã ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thế kỷ 15 BTT phát triển mạnh ở Anh dưới hình thức đơn vị BTT ứng trả trước một phần tiền bán hàng cho nhà cung ứng sản phẩm. BTT phát triển mạnh ở Mỹ vào thế kỷ 19 thông qua các nhà đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện.
Khi Christopher Columbus TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 phát hiện ra châu Mỹ thì việc giao thương buôn bán giữa các thương nhân châu Âu và châu Mỹ rất phát triển, nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn do khoảng cách địa lý quá xa và phương tiện di chuyển bằng đường biển mất rất nhiều thời gian, các nhà sản xuất châu Âu không quen với thị trường châu Mỹ và làm cho hoạt động tín dụng thương mại gặp khó khăn. Nhận ra được những khó khăn đó người Mỹ đã lập nên nhiều đại lý BTT để đi thu giúp các khoản nợ cho các thương nhân Châu Âu và hưởng hoa hồng. Hiện nay, dịch vụ BTT đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới với khoảng 65 nước, cụ thể là ở 34 quốc gia châu Âu, 9 quốc gia ở châu Mỹ, 5 quốc gia ở châu Phi, 5 quốc gia châu Úc và 12 quốc gia, vùng lãnh thổ ở châu Á. Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về sản phẩm bao thanh toán (BTT), các định nghĩa khác nhau khá nhiều phụ thuộc vào thời gian và hoàn cảnh.
Theo công ước quốc tế về BTT của UNIDROIT 1988 đã đưa ra định nghĩa về BTT như sau: BTT là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng. Theo hiệp hội BTT thế giới (FCI), BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ BTT với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa. Theo như thỏa thuận đơn vị BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng.
Ngoài ra, theo một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác thì định nghĩa về BTT: BTT là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng. Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng mức tín dụng và thu hộ. Theo quy chế hoạt động BTT của các TCTD, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về BTT như sau: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của TCTD cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm về BTT, nhưng nói chung có thể hiểu BTT chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ.
Phân loại bao thanh toán 1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ − BTT nội địa: là hình thức cấp tín dụng của một NHTM hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia. − BTT xuất nhập khẩu: là hình thức cấp tín dụng của NHTM hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ này vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Căn cứ vào tính chất có truy đòi hay không truy đòi − BTT có quyền truy đòi: là hình thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu.
− BTT không truy đòi: là hình thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu. Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hay một lý do nào khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng. Căn cứ vào phương thức bao thanh toán − Phương thức BTT từng lần: là phương thức BTT mà tương ứng với từng lần thực hiện mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua theo những thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đơn vị thực hiện BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giá trị giao dịch của lần mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 − Phương thức BTT hạn mức: là phương thức BTT mà đơn vị thực hiện BTT sẽ xem xét cấp một hạn mức BTT tối đa cho bên bán hàng.
Căn cứ vào việc giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được thực hiện giữa bên bán và bên mua mà đơn vị thực hiện BTT sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giao dịch, miễn là tổng số tiền ứng trước tại một thời điểm không được vượt quá hạn mức BTT đã được cấp. − Đồng BTT: là phương thức BTT mà các đơn vị BTT phải liên kết với nhau để thực hiện BTT cho bên bán hàng để phân tán rủi ro hoặc do số tiền ứng trước cho bên bán hàng lớn hơn tỷ lệ an toàn trên vốn điều lệ hoạt động của đơn vị BTT theo quy định của pháp luật. Căn cứ cách thức thực hiện − Phương thức thực hiện truyền thống (factoring): Bên bán và bên mua sẽ liên hệ với đơn vị BTT để biết chắc rằng đơn vị BTT có mua lại các khoản phải thu cho bên bán hay không trước khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán. − Phương thức thực hiện phi truyền thống (reverse factoring): đơn vị BTT sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán đủ điều kiện thực hiện BTT tại đơn vị BTT đó.
Trên cơ sở chuẩn xếp hạng, đơn vị BTT sẽ cấp hạn mức BTT cho cả bên bán và bên mua. Nếu những quan hệ giao dịch mua bán phát sinh mà bên mua và bên bán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vị này sẽ tiến hành thực hiện BTT, miễn là tổng số tiền ứng trước không được vượt quá hạn mức BTT đã được cấp cho bên mua hay bên bán.