CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AUSTRALIA VÀ SỰ CẦN THIẾT NHẰM THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – AUSTRALIA 1. Khái quát chung về Australia 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Australia là một đất nước nằm ở Nam bán cầu thuộc Châu Đại Dương, được bao bọc bởi Ấn Độ Dương ở phía Tây, Thái Bình Dương ở phía Đông, biển Arafura ở phía Bắc, Nam Đại Dương ở phía Nam. Tổng diện tích của Australia là 7692024 km2, trong đó diện tích đất là 7659861 km 2, diện tích đảo là 32163 km2.
Australia là đất nước rộng lớn thứ sáu trên thế giới sau Nga, Canada, Trung Quốc, Mỹ và Braxin và cũng là nước duy nhất chiếm toàn bộ một lục địa. Khí hậu Australia thay đổi từ nhiệt đới ở miền Bắc đến ôn đới ở miền Nam. Gần một phần ba nước Australia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, phần còn lại có khí hậu ôn đới. Mặc dù gần 20% lãnh thổ của Australia thuộc loại hoang mạc hoặc bán hoang mạc, nước này vẫn sở hữu nhiều loại môi trường sống phong phú.
Ở cấp độ về loài, có khoảng 85% thực vật cây có hoa, 84% động vật có vú, hơn 45% các loài chim và khoảng 89% loài cá vùng ôn đới chỉ được tìm thấy ở Australia. Ngoài ra, đất nước này cũng được ưu đãi rất nhiều tài nguyên khoáng sản như than đá, quặng sắt, bauxite, uranium, chì, kẽm, kim cương, khí đốt tự nhiên và dầu lửa. Khoáng sản như bôxit (phân bố chủ yếu ở phía Bắc bán đảo Arnhem và phía Bắc bán đảo York), than (tập trung ở phía Đông Australia), sắt (tập trung thành các mỏ lớn chạy dọc từ cao nguyên Kimberley xuống phía Tây Nam Australia), đồng (phân bố tập trung ở phía Nam đồng bằng Carpentaria), vàng (tập trung chủ yếu ở phía Tây Nam với hai vùng mỏ quan trọng nhất là Coolgardie và Kalgoorlie), bạc (phân bố nhiều ở phía Đông Nam đồng bằng Carpentaria), dầu mỏ và khí đốt (tập trung chủ yếu ở phía Đông Australia và thềm lục địa thuộc eo Bass). Điều kiện xã hội Về dân số: Tổng dân số của Australia tính tới tháng 4 năm 2017 là 24,56 triệu người.
Tỷ lệ giới tính: 0,99 nam/ nữ (tính trên tổng dân số). Tỷ lệ dân cư biết đọc, biết viết là 100%, chỉ số HDI: 0,939 (năm 2015) cao thứ hai thế giới. Con số này 7 chứng tỏ người dân Australia có mức sống cao, con người phát triển tốt, qua đó cũng thể hiện Australia là một quốc gia rất phát triển. Về lực lượng lao động: Australia có nền giáo dục toàn diện với chất lượng cao đứng đầu trong nhóm các nước OECD.
Năm 2016, Australia có 12,63 triệu lao động. Người lao động của Australia được đào tạo tốt và có chất lượng cao, nhiều cán bộ quản lý cấp cao và nhân viên có kinh nghiệm quốc tế, gần một nửa lao động của Australia có bằng đại học, chứng chỉ hoặc văn bằng nghề nghiệp. Mặc dù Australia là nước nói tiếng Anh nhưng hơn 4,1 triệu người nước này biết ngôn ngữ thứ hai, điều này là do sự di cư từ hơn 200 quốc gia đến Australia. Chính những ưu điểm này của người lao động Australia đã thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư vào nước này.
Về dân tộc: Australia là một trong những nước đa sắc tộc lớn nhất trên thế giới, trong đó gần một phần tư dân số là dân nhập cư. Theo thống kê vào tháng 6 năm 2015, 5 nước có số người sinh sống đông nhất tại Australia là: Anh, New Zealand, Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Nhóm người Việt Nam đứng thứ sáu, chiếm gần 1% dân số cả nước Australia. Australia không có ngôn ngữ chính thức.
Tiếng Anh được sử dụng như tiếng mẹ đẻ bởi hơn 81% dân số Australia. Ngoài ra, ngôn ngữ thông dụng thứ hai là tiếng Hán, tiếng Italia và tiếng Ả Rập. Australia được coi là một xã hội đa ngôn ngữ, đa văn hóa với lực lượng lao động dồi dào, được đào tạo đầy đủ, có tay nghề cao và biết nhiều loại ngôn ngữ. Về văn hóa: Từ năm 1788, nền tảng chính của văn hóa Australia là Anglo - Celtic mặc dù các đặc thù riêng của nước này cũng sớm xuất hiện từ môi trường tự nhiên và nền văn hóa của thổ dân.
Đến giữa thế kỷ 20, văn hóa Australia chịu ảnh hưởng mạnh do văn hóa đại chúng của Mỹ, chủ yếu là truyền hình và điện ảnh, do các quốc gia láng giềng và một tỉ lệ lớn người nhập cư từ các nước không nói tiếng Anh. Dân chúng Australia có đầu óc cải tiến, hiếu khách và văn hoá đa dạng. Với dân số có nguồn gốc từ hơn 140 quốc gia, Australia là một trong những nước có nền văn hoá đa dạng nhất trên thế giới. Thể chế chính trị Australia có 6 tiểu bang: Queensland, New South Wales, Victoria, South Australia, Tasmania, Western Australia và 2 vùng lãnh thổ trực thuộc Chính phủ liên bang: Lãnh thổ phía Bắc (Northern Capital Territory) và Lãnh thổ thủ đô (Australian Capital Territory hay ACT, thủ đô là Canberra).
Liên bang Australia là một nhà nước theo thể chế quân chủ lập hiến, là quốc gia độc lập, thành viên khối Liên hiệp Anh. Nữ hoàng Elizabeth II của Vương quốc Anh cũng là Nữ hoàng của Australia. Đại diện của Nữ hoàng trên toàn bộ lãnh thổ Australia là Toàn quyền tại cấp liên bang và Thống đốc tại cấp bang, theo quy ước thì họ hành động theo cố vấn của các bộ trưởng. Hiến pháp Australia trao cho quân chủ quyền hành pháp tối cao, song quyền thi hành nó được Hiến pháp ban cho riêng Toàn quyền.
Chính phủ liên bang được phân thành ba nhánh: Cơ quan lập pháp: lưỡng viện Quốc hội, gồm có Nữ vương (đại diện là Toàn quyền), Thượng nghị viện, và Hạ nghị viện; Cơ quan hành pháp: Hội đồng Hành pháp Liên bang, thi hành theo Toàn quyền với cố vấn của Thủ tướng và các bộ trưởng; Cơ quan tư pháp: Tòa Cao đẳng Australia và các tòa án liên bang khác, các thẩm phán do Toàn quyền bổ nhiệm theo cố vấn của Hội đồng. Khái quát nền kinh tế Australia 1. Một số chỉ số kinh tế vĩ mô Nền kinh tế Australia có mức tăng trưởng nhanh và tỷ lệ thất nghiệp rơi xuống mức thấp nhất trong suốt hai thập kỷ vừa qua. Đây chính là kết quả của gần ba thập kỷ cải cách cơ cấu kinh tế và cải cách chính trị hợp lý.
Khu vực kinh tế tư nhân của Australia có vai trò quan trọng trong nền kinh tế với sức cạnh tranh cao, năng động và có lực lượng lao động lành nghề và linh hoạt. Kể từ năm 2006 tới năm 2016, nền kinh tế Australia tăng trưởng trung bình 2,7% mỗi năm. Theo báo cáo của quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo phương pháp ngang giá sức mua (PPP: Purchasing Power Parity) năm 2016 của Australia đạt gần 1188,764 tỷ USD, đứng thứ 19 trên toàn thế giới.1: Một số chỉ số kinh tế vĩ mô của Australia giai đoạn 2006- 2016 GDP tính theo PP Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ thất tăng GDP/người lạm Năm ngang giá sức mua nghiệp trưởng (USD) phát (tỷ USD) (%) GDP (%) (%) 2006 771,942 2,694 37869,649 3,554 4,775 2007 828,048 4,488 45127,396 2,356 4,35 2008 866,465 2,626 49190,014 4,348 4,242 2009 888,426 1,762 45584,234 1,770 5,567 2010 919,934 2,297 56330,164 2,863 5,208 2011 964,058 2,677 66769,419 3,356 5,067 2012 1016,724 3,555 68028,935 1,686 5,217 2013 1053,864 2,006 64664,264 2,475 5,650 2014 1101,559 2,687 61165,629 2,464 6,067 2015 1140,619 2,444 51180,949 1,532 6,075 2016 1188,764 2,870 51592,914 1, 310 5,712 Nguồn: Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), tại địa chỉ: http://www.org/external/pubs/ft/weo/2016/02/weodata/index.aspx Từ bảng 1.1 có thể thấy tổng sản phẩm trong nước GDP của Australia nhìn chung có xu hướng tăng từ năm 2006 đến năm 2016. GDP có mức tăng đáng kể, năm sau cao hơn năm liền kề trước, tỉ lệ tăng trưởng GDP giai đoạn này trong khoảng từ 1,7% đến 4,5%.
Tỷ lệ lạm phát cũng luôn ổn định và ở mức thấp. Nguyên nhân đóng góp vào sự thành công của Australia trong việc duy trì lạm phát ở mức từ 1,3% tới 4,3% cùng với mức tăng trưởng kinh tế khá cao chính là sức sản xuất cao của nền kinh tế. Song song với tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thất nghiệp cũng được duy trì ở mức 4% tới 6%. Cơ cấu nền kinh tế Biểu đồ 1.1: Cơ cấu nền kinh tế Australia năm 2016 Nguồn: Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ, tại địa chỉ: https://www.gov /library/publications/resources/the-world-factbook/geos/as.html Australia là một trong những nền kinh tế tư bản phương tây phát triển hiện đại, có sức cạnh tranh và là một địa chỉ đầu tư hấp dẫn.
Australia có một cơ cấu kinh tế hợp lý, ổn định và hiện đại tạo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh. Theo như biểu đồ 1.1, trong năm 2016, dịch vụ là ngành chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu nền kinh tế Australia, doanh thu từ ngành này đóng góp tới 68,2% trong cơ cấu GDP, thu hút 75,3% lao động. Khu vực công nghiệp đứng thứ hai với 28,2% GDP và thu hút 21,1% lao động, còn nông nghiệp chỉ chiếm 3,6% GDP với 3,6% lao động tham gia vào khu vực này. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhờ có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu đa dạng, Australia là một nước có nền kinh tế công, nông nghiệp phát triển.
Hai ngành chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi với các sản phẩm nông nghiệp chính như: len, lúa mì, lúa mạch, ngô, nho, khoai tây, táo và chuối. Tuy nhiên, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Australia thay đổi cơ cấu kinh tế theo các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trong đó dịch vụ là ngành chiếm tỷ 11 trọng lớn nhất, công nghiệp cũng phát triển mạnh, còn nông nghiệp giảm dần tỷ trọng. Dịch vụ Ngành dịch vụ là ngành tăng trưởng và phát triển mạnh nhất trong những năm gần đây ở Australia, chiếm tới 68,2% GDP của nền kinh tế trong năm 2016. Các ngành dịch vụ bao gồm: du lịch, tài chính, vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, tư vấn, các dịch vụ công (được cung cấp bởi chính phủ Australia như là giáo dục hoặc y tế) và một số dịch vụ tư nhân khác.
Sự tăng trưởng liên tục của lĩnh vực này đã tạo thêm sức mạnh và sự đa dạng của nền kinh tế Australia. Du lịch là ngành mũi nhọn trong lĩnh vực dịch vụ ở Australia, góp phần đáng kể trong việc tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và phát triển kinh tế. Kể từ năm 2013, ngành du lịch Australia đã tăng trưởng mạnh mẽ với lượng du khách quốc tế hàng năm liên tục phá vỡ kỷ lục từ 6 triệu, 7 triệu và trong năm 2016 là 8 triệu du khách.