phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN SỰ RA ĐỜI, TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM MÁC - LÊNIN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận tiếp cận sự ra đời, tồn tại của tôn giáo Khi phân tích cơ sở cho sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng cơ sở đó bao hàm cả nguyên nhân và điều kiện.
Nguyên nhân của sự phát triển của Phật giáo nằm chính trong xã hội mà nó đang tồn tại, đó chính là các hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, đạo đức của xã hội Việt Nam hiện tại đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến Phật giáo là một tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Với những nguyên nhân đó là chính nhưng là chưa đủ để lý giải tình hình Phật giáo ở Việt Nam, để phát triển được Phật giáo còn có những điều kiện cần và đủ tác động, đó chính là quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo (rất khác so với thời kỳ trước) và chính bản thân Phật giáo cũng vận động, thích nghi, nỗ lực tận dụng “thời cơ” để phát triển. Một điểm cần lưu ý rằng xã hội luôn luôn vận động và biến đổi, luôn nảy sinh những thứ mới, chính vì vậy cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay, nó không còn giống nguyên những nguồn gốc mà Mác, Ăngghen đã chỉ ra khi nghiên cứu về tôn giáo, nó đã được bổ sung những yếu tố mới của hoàn cảnh thực tế hiện tại. Chúng tôi lấy quan điểm Mác, Ăngghen, Lênin về tôn giáo là cơ sở lý luận để nghiên cứu vấn đề.
Luận văn sẽ chỉ ra những điều mới trong sự tồn tại, phát triển của một tôn giáo cụ thể là Phật giáo, ở một hoàn cảnh cụ thể là Việt Nam mà những điều mới ấy là chưa có, chưa nảy sinh trong hoàn cảnh chủ nghĩa Mác ra đời và các ông cũng chưa đề cập 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính vì vậy để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, trước tiên cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan. Các khái niệm cơ bản * Khái niệm tôn giáo Tôn giáo ra đời từ rất sớm, tuy nhiên thuật ngữ “tôn giáo” hiện nay, khó có thể hàm chứa được nội dung đầy đủ của cái được gọi là “tôn giáo” từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Cũng như khái niệm Văn hóa, định nghĩa về tôn giáo cũng đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nêu ra rất phong phú.
Dựa trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử, quan niệm của C. Mác về tôn giáo Ăngghen đã đưa ra một định nghĩa có tính chất kinh điển từ góc độ triết học về tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [55, tr. Định nghĩa trên đã bao quát được cả bản chất của tôn giáo, con đường hình thành ý thức hay niềm tin tôn giáo. Mối quan hệ cơ bản giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội cũng được thể hiện rõ ở định nghĩa này.
Một trong những tiền đề của quan niệm Mác xít về tôn giáo phải kể đến luận điểm của Phoiơbách: Không phải Chúa trời sáng tạo ra con người, mà chính là con người sáng tạo ra Chúa trời theo hình ảnh của mình. Trong định nghĩa trên, ta thấy rằng Ăngghen đã tiếp tục khẳng định luận điểm con người sáng tạo ra tôn giáo. Tất nhiên con người ở đây là con người hiện thực của Mác, chứ không phải con người trừu tượng chung chung của Phoiơbách. Chính vì vậy con người là chủ thể sáng tạo ra tôn giáo, đối tượng của sự phản ánh mà con người sáng tạo ra tôn giáo là sức mạnh bên ngoài thống trị, chi phối cuộc sống hàng ngày của con người, phương thức 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức để tạo ra tôn giáo là phương thức hư ảo.
Kết quả của sự sáng tạo đó là tạo ra cái siêu nhiên, thần thánh trong đầu óc con người thuộc lĩnh vực ý thức, niềm tin. Định nghĩa này của Ăngghen cũng chỉ ra được bản chất, đặc trưng của tôn giáo, đó là niềm tin hay thế giới quan hoang đường hư ảo của con người. Sự ra đời tôn giáo là một tất yếu, kết quả của lịch sử: Khi con người không đủ sức chống lại thế giới bên ngoài, họ cần sự chở che, bù đắp hư ảo của tôn giáo. Cũng có thể khẳng định bản chất tôn giáo thể hiện rõ nhất thông qua chức năng đền bù hư ảo của nó.
Về luận điểm này Mác cũng khẳng định “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [54, tr. Đây là những định nghĩa từ góc độ triết học về tôn giáo. Tôn giáo là một hình thức phản ánh đặc biệt thế giới hiện thực.
Nhưng không phải chỉ là sự phản ánh đơn thuần, mà nó có khả năng tác động ngược trở lại tồn tại xã hội. Vì vậy để nghiên cứu tôn giáo hiệu quả, chúng ta cần phải xem xét tôn giáo như một kết cấu xã hội, như một hiện tượng kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Kết cấu của một tôn giáo bao gồm ba yếu tố cơ bản: ý thức tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo và tổ chức tôn giáo, trong đó ý thức tôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Tôn giáo là một thành tố của văn hóa, như quan điểm của Hồ Chí Minh “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [58, tr. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa trên những quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta quan niệm về ngồn gốc, bản chất của tôn giáo: Tôn giáo phát sinh và tồn tại do sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai và áp bức xã hội. Khi cuộc sống còn chưa tốt đẹp, trình độ văn hóa thấp kém và chưa có một thế giới quan khoa học, thì con người còn tin vào sức huyền bí nào đó của tôn giáo. * Khái niệm cơ sở: Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng thì Cơ sở được hiểu theo những nghĩa sau: “là cái làm nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển mà những cái khác hình thành, phát triển; Đơn vị cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác… của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên; Người hoặc nhóm người làm chỗ dựa cho tổ chức hoạt động, thường là hoạt động bí mật” [70, tr.
Tôn giáo ra đời và tồn tại trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa đạo đức phù hợp với nó. Nhưng khi đã tồn tại rồi, hoạt động của nó còn biến những tiền đề đã tạo ra nó thành cơ sở riêng cho sự tồn tại và phát triển tiếp của nó. * Khái niệm nguyên nhân Trong sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật có phạm trù nguyên nhân và kết quả. Trong mối liên hệ với phạm trù kết quả thì nguyên nhân được hiểu: là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
Một phần nào đó của nguyên nhân có thể tham gia cấu thành 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên cơ sở tồn tại của đối tượng, nghĩa là sự tác động của nó là nhiều lần, liên tục chứ không phải một lần là xong. * Khái niệm điều kiện Điều kiện là “1. Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra; 2. Điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó; 3.
Những gì có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó” [70, tr. Tóm lại, những yếu tố ngoại cảnh đối với đối tượng có thể góp phần thúc đẩy sự ra đời, phát triển, có thể cản trở, kìm hãm sự ra đời, phát triển của đối tượng nào đó. Do là yếu tố bên ngoài đối tượng nên điều kiện có thể phát sinh thêm hoặc mất đi tùy thời gian tồn tại của đối tượng. Cơ sở xã hội của sự ra đời, tồn tại tôn giáo Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại cho nhân loại những giá trị lớn lao trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, trong đó có nghiên cứu tôn giáo.
Mặc dù các nhà kinh điển Mác, Ăngghen không coi tôn giáo là đối tượng nghiên cứu chính của mình, nhưng sự nghiệp cách mạng mà các ông lãnh đạo đã vấp phải những lực cản không nhỏ từ phía Giáo hội. Một số giáo sĩ phản động ra sức chống phá cách mạng, trên cả phương diện học thuyết cho đến hiện thực. Dù các ông không có tác phẩm chuyên biệt về tôn giáo, nhưng trong mối liên hệ với các vấn đề thế giới quan triết học, những vấn đề đấu tranh giai cấp, thì vấn đề tôn giáo được các ông đề cập ngay ở những tác phẩm thời trẻ: Vấn đề Do Thái (1843), Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu (1843), Thông tri Crighe… và nhiều tác phẩm sau này khác.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã có những cống hiến to lớn cho nhân loại trong nghiên cứu tôn giáo. Đáng chú ý là vấn đề về cơ sở tồn tại, nguồn gốc cùng các tiền đề cho sự ra đời của tôn giáo.